TỜ TƯỜNG TRÌNH QUAN HỆ HAY TIMELINE
Trong
diện bảo lãnh K-1 (hôn phu/hôn thê), timeline mà bạn nộp kèm theo mẫu
đơn I-129F là một tờ giấy trên đó bạn ghi ngày xảy ra những sự việc có
liên quan tới quan hệ giữa bạn và người hôn phu/hôn thê của bạn. Theo
bạn Peter, người đã bảo lãnh hôn thê ở Việt Nam được giấy hồng, bạn nên
thêm một vài đoạn để gây ấn tượng nơi Sở Nhập tịch & Di trú Hoa Kỳ
(USCIS) cho đơn I-129F và nơi Lãnh sự quán Hoa Kỳ cho cuộc phỏng vấn
làm cho họ tin rằng quan hệ và tình yêu giữa hai người là chân thật.
Sau
đây là thí dụ đoạn văn của bạn Peter trong thư trình bày bằng chứng về
chuyến đi Việt Nam của anh hồi tháng 9 năm 2007 đăng ở trang:
. http://www.visajourney.com
In July 2007, Thi and I decided we wanted to see each other
again. Being apart is difficult even though we video chat almost
everyday and talk on the phone since December 31, 2007. We decided
September would be best since we thought her interview would be in
January or February. Waiting until then would be very hard. I decided
on EVA Airlines and booked the date September 11, 2007 to September 28,
2007.
My flight was pleasant and spent
time talking to a French Canadian doctor who is working in HCMC on the
flight from Taipei to HCMC. His positive feelings about Vietnam
reinforced my own opinions.
Ngoài
ra, trong Timeline của mình về chuyến đi Việt Nam hồi tháng 9 năm 2007
mà anh soạn để hôn thê của anh cầm theo trong ngày phỏng vấn, Peter
cũng liệt kê tất cả những chứng từ của mình như vé máy bay, biên nhận
mua vé máy bay bằng thẻ tín dụng, biên nhận mua quà bằng thẻ tín dụng,
biên nhận đi chơi Đầm Sen và Suối Tiên, v.v… mà anh gửi kèm theo
Timeline. Sau đây là đoạn anh viết trong Timeline.
The following is submitted as proof of our relationship and my September trip:
* Passport and Visa stamps dated September 12, 2007 (Arrival) and September 28, 2007 (Departure)
* Interary printed from Expedia.com showing my EVA flights to and from Vietnam.
* Boarding Passes and Bagage Claim Tickets for the flights
* Wells Fargo Credit Card Statement dated 8/13/07 showing payment of flight. Note red arrow.
* Wells Fargo Credit Card Statment dated 9/13/07 showing See’s Candy charge (9/10) for candy gift for Thi. Note red arrow.
*
Wells Fargo Credit Card Statement dated 9/27/07 showing CVC Pharmacy
charges (9/4/ & 9/5) for candy gifts for This’s family, An Dong SBit
charge (9/17) for diamond earrings, EIBVN Vietnam Eximba charge (9/22)
for curtains and Liberty 1 Hotel charge for 9/26/07 family dinner. All
marked with red arrow.
* Khanh Duc Tran’s Temproraty Residence Book page.
* Bus tickets from September Trip
* September 12, 2007 Arrival at Tan Son Nhat International Airport photos
* September 13, 2007 Photos of sightseeing
* September 13, 2007 Receipt of Lunch at Pho Xua with discount coupon and photo
* September 14, 2007 Receipts from Dam Sen Park
* Photos from Dam Sen Park. It rained while we were there.
*
September 16, 2007 Receips from Suoi Tien Theme Park. I paid for Thi,
Khanh, Dung and Nhung, a neighbor of Dung’s. Also the Suoi Tien Theme
Park map and game tickets
* September 16, 2007 Photos from Suoi Tien Theme Park. It also rained while we were there.
Qua
Timeline của mình hôn thê của Peter đã được Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại
TPHCM cấp visa K-1. Bạn nên bắt chước Timeline của Peter bằng cách nộp
kèm chứng từ mỗi khi nêu một sự việc nào xảy ra giữa hai người để chứng
minh rằng sự việc đó có thật. Nhân viên lãnh sự khi đọc Timeline của
bạn thấy bạn ghi có nộp kèm theo chứng từ cho một sự việc nào, họ có
thể giở ra đằng sau để nhìn dù chỉ là thoáng qua. Tôi đã ra Tòa để làm
thông dịch cho một vài người, tôi thấy quan tòa khi đọc đơn của luật sư
thấy những chứng từ liệt kê, họ thường lật hồ sơ ra phía sau để đọc sơ
qua những chứng từ trước khi trở lại đơn chính. Việc làm của nhân viên
lãnh sự cũng tương tự như việc làm của một người quan tòa. Họ đọc
Timeline của bạn để giúp họ hiểu biết rõ hồ sơ của bạn trước khi quyết
định.
Trong Timeline của mình, Peter
dùng viết lông màu đỏ để tô lên những ngày và những chi tiết quan
trọng. Peter cho biết cách trình bày Timeline về chuyến đi Việt Nam hồi
tháng 9 năm 2007 của anh cũng tương tự như trong Tờ khai quen biết hôn
thê của anh trong vòng hai năm vừa qua (Statement of having met your
Fiancé (e) in the last two years) và trong Tờ bằng chứng về quan hệ
tiếp diễn (Proof of on going relationship) mà anh đã nộp trước đó.
Khi
đọc bài của Peter, chắc hẳn bạn sẽ nhận thấy rằng Peter đã nộp tờ
tường trình quan hệ giữa hai người, tức là Tờ khai quen biết hôn thê
của anh trong vòng hai năm vừa qua (Statement of having met your
Fiancé(e) in the last two years) và Tờ bằng chứng về quan hệ tiếp diễn
(Proof of on going relationship) cùng lúc với đơn I-129F để bảo lãnh
cho hôn thê của anh. Khi hôn thê của anh đi phỏng vấn, anh lại làm một
tờ tường trình quan hệ khác để bổ sung và cập nhật cho tờ đầu tiên.
Trong
tờ tường trình quan hệ nộp chung với mẫu đơn I-129F, bạn không bắt
buộc phải làm 2 tờ khác nhau như Peter đã làm. Tuy nhiên, bạn nên ghi
ngày tháng theo thứ tự thời gian và cố gắng đi vào chi tiết như
Timeline của Peter.
Đoạn mở đầu của tờ tường trình quan hệ nộp cùng với đơn I-129F có thể bắt đầu như sau:
In
support of Form I-129F filed for my fiancée, Ms: (tên họ), born on
(ngày sanh), I hereby present the timeline of our relationship as
follows:
- On (ngày), I saw an ad placed
by Ms. (tên họ) in VietnamCupid.com. Seeing that she was the kind of
person for whom I was looking, I decided to respond to her ad. Enclosed
here is a copy of the said ad printed from VietnamCupid.com, marked as
Exhibit 1.
- Three days later, on (ngày), she replied positively to me. Enclosed here is a copy of her reply, marked as Exhibit 2.
-
Since then, we have been communicating with each other quite
regularly. We video chat with each other or send email to each other
almost every day. Enclosed here are chat logs and emails from both of
us, marked as Exhibits 3.
- Since (ngày),
we have been talking on phone twice a week. Enclosed here are telephone
bills from both of us, marked as Exhibits 4.
Tờ tường trình quan hệ bổ sung và cập nhật hóa cho ngày phỏng vấn có thể bắt đầu như sau:
Since
the day I submitted the first timeline of my relationship with Ms. (tên
họ) along with I-129F, there have been some other developments in our
relationship. In fact, missing my fiancée, on (ngày), I decided to
travel to Vietnam to see her. Thus, I hereby present my updated timeline
about the said travel.
Trong Timeline,
khi bạn ghi nộp những chứng từ nào thì bạn nên ghi số chúng theo thứ tự
trình bày trong Timeline. Số đó phải được ghi lại trên chứng từ để
nhân viên lãnh sự biết chứng từ nào đi chung với đoạn văn hay lời khai
nào trong Timeline.
Thí dụ: Exhibit 1, Exhibit
2, v.v… Chứng từ nộp chung với Timeline phải xếp theo thứ tự mà bạn đã
đánh số chúng. Đó là lề lối làm việc của luật sư.
Timeline
không bắt buộc cho diện vợ chồng. Tuy nhiên, hiện tại, Lãnh sự quán
Hoa Kỳ có khuynh hướng đòi hỏi Timeline cả ở những người được bảo lãnh
diện vợ chồng. Do đó, bạn nào làm đơn bảo lãnh diện vợ chồng cũng nên
nộp Timeline chung với mẫu I-130.
* Cuối cùng, Timeline cần phải tuyên thệ trước công chứng viên (Notary Public) để có giá trị về mặt pháp lý.
Bạn
có thể có cách trình bày khác, nhưng nhớ đánh số những chứng từ nộp
kèm theo Timeline như luật sư làm khi họ nộp chứng từ cho Tòa án.
Người
được bảo lãnh trước khi đi phỏng vấn nên đọc đi đọc lại Timeline nhiều
lần để thuộc lòng ngày tháng của những sự việc xảy ra hầu có thể trả
lời đúng theo Timeline. Ngày ghi trong Timeline nếu cần thì phải ghi rõ
là giờ ở Mỹ hay ở Việt Nam.
Thí dụ: My fiancee had her interview on (ngày), at 10:00 am local time in Ho Chi Minh City.
Hungviet
Chủ Nhật, 13 tháng 5, 2012
Kỹ thuật bơi bướm
1. Khái quát chung:
- Bơi Bướm được phát triển từ kiểu
bơi Ếch cổ điển của thập kỷ 30. Nó trở thành kiểu bơi thứ IV được công
nhận với luật quốc tế vào đầu năm 1953. Nó là kiểu bơi nhanh thứ II sau
kiểu bơi Trườn sấp bởi vì hầu hết sự chuyển động cơ bắp của Bướm tương
tự như kiểu trườn sấp.
- Bướm là 1 kiểu bơi hoàn mỹ. Tất cả
các bộ phận của nó đều ăn khớp với nhau và tất cả đều cần thiết (không
có gì là phụ). Vì vậy, hơn hẳn so với các môn khác, bơi Bướm dựa vào kỷ
thuật hiệu quả. Người ta thường nói kỷ thuật bơi Bướm của 1 VĐV hoặc
đúng hết hoặc sai hết. KHÔNG BAO GIỜ DÙNG bơi Bướm để trừng phạt VĐV.
- Xét về kiểu bơi tập luyện, bơi
Bướm có sự chuyển đổi tích cực sang 3 kiểu còn lại. Bơi Bướm đẩy mạnh
việc sử dung thành thạo tác dụng đòn bẩy và phát triển cơ bắp, chưa kể
đến việc cải thiện cảm giác nước. Một khi đã nắm được nhịp điệu tự nhiên
của động tác thì bơi Bướm sẽ trở thành một kiểu bơi dễ dàng, đẹp mắt
và thú vị.
- Thật sự bơi Bướm không khó như mọi người tưởng, nếu như luôn luôn ghi nhớ trong đầu là sử dụng cơ thể
của mình để bơi và không cho phép tay hoặc chân chi phối. Nhịp điệu và
phối hợp trong bơi Bướm có tầm quan trọng sống còn và câu châm ngôn của
VĐV bơi Bướm là “hông nhô cao khi bàn tay vào nước” sẽ tạo một cơ chế phối hợp đơn giản và dễ dàng để ai cũng có thể bơi Bướm đúng kỷ thuật.
-“Bơi Bướm không khó nếu biết dùng cơ thể để bơi” (Mark Schubert)
-“Sự thách thức lớn nhất khi bơi Bướm là giữ nhịp điệu đều” (Alex Baumann)
2. Tư thế cơ thể:
- Cách thực hiện: Bướm là kiểu bơi mang tính nhiệp điệu. Nhịp điệu đó đến từ tư thế cơ thể. Người ta còn gọi bơi Bướm là bơi bằng thân. Tư thế cơ thể trong bơi Bướm có thể tóm tắt là: “Vai xuống – hông nhô cao; vai cao – hông hạ thấp” tuy nhiên uốn sóng bao nhiêu là vừa ? Điều quan trọng là cơ thể cần được uốn tới trước để di chuyển xuyên qua một khối nước tương đối hẹp ngay ở phía dưới mặt nước sao cho cơ thể không phải lặn tới trước (uốn quá sâu) và cũng không di chuyển tới trước ở ngay mặt nước (uốn quá cạn hoặc cắt bớt sóng).
- Những lỗi thường mắc: phối hợp tay chân không đúng nên làm mất “nhịp sóng” hay làm cho sóng thân bị “giật cụt”.
3. Động tác tay:
- Cách thực hiện: quạt tay theo hình lỗ khóa hay chữ Y.
+ Vào nước: ngay vai – lòng bàn tay hướng ra ngoài (VĐV càng có sức mạnh càng vào nước gần trục giữa).
+ Quạt ra ngoài: (tỳ nước) ấn ngực -
duỗi dài từ vai để tay tách ra phía ngoài vai và hướng ngược trở lên
mặt nước (tại vị trí tỳ nước, cùi chỏ được giữ cao và VĐV không nhìn
thấy bàn tay vì đầu nằm dưới cánh tay) .
+ Quạt vào trong: không được bắt đầu đến khi động tác đập chân đã chuyển hướng mông đến bề mặt nước.
+ Quạt lên: càng về sau càng nhanh.
+ Vung trên không: gần như thẳng – cách khỏi mặt nước. Tuy nhiên cánh tay hơi gập khi vung qua đầu.
- Những lỗi thường mắc:
+ Không tách tay rộng hơn vai trước khi kéo (phải kéo theo hình lỗ khoá).
+ Kéo tay không tăng tốc ở đoạn cuối.
4. Động tác chân:
- Cách thực hiện: hai chân hoạt động chung như một chân vịt bản lớn và được phối hợp với động tác uốn sóng tự nhiên cùa cơ thể. Bắt đầu từ hông, đập lên bằng mặt sau của đầu gối (đầu gối hoàn toàn thẳng trong động tác đưa chân lên vì khi ấy hông đang nổi cao trên mặt nước) và đập xuống bằng mặt trước của đầu gối (người mới tập ít khi gập đủ chân để đập xuống). Động tác đập chân Bướm càng về sau càng mạnh, dứt khoát như vút bằng roi da với nhịp cách đều (Vút – Vút). Cả hai chân trong bơi Bướm phải đập mạnh như nhau. Kết thúc đập xuống với chân duỗi thẳng hoàn toàn (độ sâu của bàn chân khi đập xuống rất quan trọng)
- Thời điểm thực hiện động tác chân:
+ Chân I: khi tay vào nước hông cao hơn đầu và vai. Điểm quan trọng: hông phải lướt trên mặt nước trong lần đập xuống đầu tiên.
+ Chân II: khi tay quạt lên, giúp
cho hông cao khi tay di chuyển trên không. Sự kết hợp của “hông cao” và
“chân duỗi thẳng” làm cho cơ thể “bay xa” trên bề mặt nước.
- Những lỗi thường mắc:
+ Chân đập so le.
+ Chân chỉ đưa lên chứ không đập vút xuống.
+ Gập đầu gối để co chân lên (chứ không phải đập lên bằng mặt sau đầu gối).
+ Chỉ đập một chân trong chu kỳ tay.
+ Đâp chân không tăng tốc ở đoạn cuối (không có động tác “vút roi”).
+ Vội vàng gập đầu gối nên không có tư thế bay (hông cao – chân duỗi thẳng)
5. Phối hợp:
Chỉ cần nhớ câu “hông nhô cao khi bàn tay vào nước” là đảm bảo động tác phối hợp đúng và chính xác. Khi vào nước cố gắng đầu – thân – cánh tay vào nước như một khối thống nhất (lưng thẳng từ đầu đến cuối cột sống).
6. Đầu:
- Cách thực hiện: có ý nghĩa “sống còn” trong bơi Bướm. Sự phối hợp chính xác của đầu – tay – chân đảm bảo cho hông luôn luôn nhô cao trong nước. Bơi Bướm “mất hông” rất khó đạt tốc độ cao. Đầu luôn luôn thẳng hàng với thân trong suốt quá trình bơi.
+ Mặt nhìn xuống khi tay quạt ra ngoài.
+ Cằm hơi nâng lên (mắt nhìn về phía trước) khi tay quạt vào trong.
+ Cằm nhô khỏi mặt nước khi tay quạt lên (về sau – ra ngoài).
+ Đầu cuối xuống khi tay vung ngang
vai để tay vào nước đổ vào nước theo trọng lực (điều này giúp hỗ trợ
chuyển động sóng của cơ thể).
- Những lỗi thường mắc: khi tay vung ngang vai đầu chưa cuối xuống (đầu phải xuống trước tay).
7. Thở:
- Cách thực hiện: chính sức mạnh của động tác chân, chứ không phải động tác tay giúp cho bạn thở. Thở khi đang bay là yếu tố kỷ thuật quan trọng nhất của động tác, vì vậy nâng người quá cao khi thở sẽ làm mất tư thế của cơ thể. Thở phải liên kết đồng bộ với chuyển động thân. Nên thở hai chu kỳ tay một lần (một nín - một thở) để duy trì tư thế cơ thể tốt hơn (thở nhiều làm bạn bơi như “lên dốc”). Thở bằng cách đưa cằm về trước như “gân cổ cãi với ai”
- Những lỗi thường mắc: không bơi một nín - một thở (người sẽ dựng đứng và chân mau mệt)
(nguồn:Yetkieuclub)
------
Các video tham khảo:
Bơi lội chữa được đau lưng?!
Đối với một số người bị bệnh đau dạ dày, hành tá tràng thì rất khó dùng thuốc điều trị đau lưng vì dễ gặp biến chứng. Chính vì thế phải kết hợp chữa trị dùng thuốc với tập thể dục chữa bệnh, đặc biệt là bơi lội mới mong có kết quả nhanh chóng và ít tái phát.
Đau lưng là một căn bệnh khá phổ biến ở cả nam và nữ ở lứa tuổi trưởng thành, nhưng thường gặp hơn ở tuổi trung niên và tuổi già. Bệnh thường xuất hiện đột ngột với những đợt đau nhất định do thay đổi thời tiết, khí hậu hoặc lao động căng thẳng, lao động ở tư thế ngồi hay đứng nhiều, v.v... Đau lưng có thể là đau cơ năng (do tư thế, lao động nặng...) hoặc đau do nguyên nhân bệnh lý (thoái hóa khớp, viêm khớp, loãng xương, lao cột sống...).
Bơi
lội được xem là một thể thao chữa bệnh đau lưng hiệu quả nhất bởi trong
môi trường nước, lực hấp dẫn (trọng lực) giảm. Khi bơi hầu như các khớp
ở chân và cột sống không chịu tác động của trọng lượng cơ thể. Chức
năng hệ thống tim mạch và hô hấp được củng cố, phát triển sức bền chung
mà không ảnh hưởng đến các khớp. Hơn nữa trong quá trình tập bơi, các
nhóm cơ lưng được củng cố, các khớp được nuôi dưỡng tốt hơn, có thể kìm
chế và giảm quá trình thoái hóa ở các khớp, giảm tần suất tái phát của
bệnh.
Do
đặc thù của môi trường nước, gánh nặng lên hệ thống tuần hoàn khi tập
bơi thấp hơn so với khi tập chạy. Các động tác hít vào và thở ra khó
khăn do áp lực của nước lên ngực người bơi, bởi vậy tập bơi giúp phát
triển hệ thống hô hấp và gia tăng dung tích sống của phổi.
Do lực cản và tính chất dẫn nhiệt của nước lớn, nên tiêu hao
năng lượng khi bơi cao hơn để giảm trọng lượng thừa của cơ thể, giúp
giảm gánh nặng bổ sung lên các cơ và khớp, đặc biệt là khớp gối, khớp
háng và cột sống thắt lưng.
Ngoài ra, môi trường lạnh của nước còn có tác dụng làm nâng cao khả năng chống đỡ của cơ thể đối với các yếu tố bất lợi của môi trường (nóng, lạnh...) và cơ thể được tôi luyện. Khi tác động lên các thụ cảm thể trên da, nước làm tăng hoạt tính của các dòng điện sinh học, làm cho các tế bào thần kinh hoạt động mạnh hơn, làm cân bằng các quá trình hưng phấn và giảm ức chế của vỏ não, nhanh chóng loại bỏ những dấu vết mệt mỏi do làm việc trí óc căng thẳng.
Để tập bơi đạt hiệu quả chữa bệnh và củng cố sức khỏe, cần tập 3 buổi trong một tuần (cách ngày), nâng dần thời gian tập để mỗi buổi có thể kéo dài 25-30 phút. Tập luyện phải thường xuyên, liên tục. Tăng tốc độ bơi dần dần vào các buổi để khi bơi tần số mạch đạt 125-130 nhịp/phút.
Như vậy, tập luyện các bài tập rèn sức bền đặc biệt là tập bơi, ngoài tác dụng củng cố các nhóm cơ lưng, các khớp được nuôi dưỡng tốt hơn, có thể kìm chế và giảm quá trình thoái hóa, giảm sự tái phát của bệnh, còn có tác dụng củng cố và tăng cường sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh.
Theo Dân Trí
Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2012
Cách sắp xếp hồ sơ phỏng vấn
Hồ sơ được chia làm 04 bộ:
Bộ 1: Bản chính các loại giấy tờ:
Chứng minh nhân dân; Hộ chiếu; Hộ khẩu; Giấy đang ký kết hôn của người bảo lãnh + người được bảo lãnh chính; Khai sanh của từng đương đơn được bảo lãnh và người bảo lãnh, người đồng tài trợ
Mục đích của việc sắp xếp này là để khi sơ vấn nhân viên Lãnh sự dễ kiểm tra đối chiếu và không lấy nhầm bản chính của mình.
Bộ 2: Giấy tờ của các đương đơn
Người được bảo lãnh chính:
- 04 tấm hình 5x5cm chụp thẳng trên nền trắng bỏ vào một túi nhỏ (nhớ ghi tên họ, ngày tháng năm sinh, Case number phía sau) kẹp vào góc trái phía trên mẫu DS-230, bản photocopy CMND, Hộ chiếu, Bản chính Lý lịch tư pháp, Bản chính I-864, giấy khai thuế năm gân nhất (gồm W2 và I-1040), Giấy chứng nhận việc làm của người bảo lãnh và người đồng bảo trợ, thư báo tiền lương (nếu có), bản photocopy giấy chứng nhận Quốc tịch hoặc hộ chiếu của người bảo lãnh và người đồng bảo trợ, giấy đổi tên Việt sang tên Mỹ của người bảo lãnh và người đồng bảo trợ.
Người đi theo: Như người bảo lãnh chính
Tất cả giấy tờ ngoài DS-230 và lý lịch tư pháp là bản chính những giấy tờ còn lại đều là photocopy + thêm giấy chứng nhận độc thân cho nữ độc thân 18 tuổi trở lên và nam 20 tuổi trở lên.
Bộ 3: Kết quả khám sức khỏe xuất cảnh và phiếu chích ngừa màu vàng của từng thành viên (mỗi kẹp cho mỗi thành viên).
Bộ 4: Giấy tờ, bằng chứng, hình ảnh chứng minh mối quan hệ.
Gồm 05 kẹp (túi) nhỏ:
Túi 1: Giấy chuyển đi, chuyển đến (nếu có sự thay đổi hộ địa chỉ cư ngụ), Hộ khẩu cũ của gia đình lúc trước (nếu có), Sổ gia đình công giáo (nếu có).
Túi 2: Học bạ và bằng cấp của các thành viên trong gia đình.
Túi 3: Bưu gửi tiền + Điện thoại + Thư từ.
Túi 4: Hình ảnh:
- Cắt đôi tờ giấy A4 (theo chiều rộng) sắp xếp hình và dán theo thứ tự thời gian, bên dưới ghi chú thời gian, địa điểm, ai là người trong hình? Chụp với ai? (không cần nhiều hình, nên lựa những tấm hình có ý nghĩa nhất, tránh lựa những tấm hình quá đông người phải mất công ghi chú và giải thích với nhân viên Lãnh sự).
+ Hình này ta có thể bấm lại làm 04 Album:
Album 1: Người được bảo lãnh với người bảo lãnh:
Hình cưới hỏi của người bảo lãnh, hình đầy tháng thôi nôi, sinh nhật, du lịch, đám cưới … của người được bảo lãnh có mặt của người bảo lãnh.
Album 2: Hình của người bảo lãnh với các thành viên đi cùng.
- Hình đám hỏi, đám cưới, của người được bảo lãnh và hôn phối, hình đầy tháng, thôi nôi, sinh nhật, du lịch… của các con cùng với người được bảo lãnh chính.
Album 3: Hình ảnh của người bảo lãnh, người thân ở Mỹ (chụp ở nhà có địa chỉ, trang trí có hình ảnh gia đình…)
Album 4: Hình ảnh kỷ niệm (nếu có) của người được bảo lãnh và người đồng bảo trợ.
Túi 5: Sổ tạm trú, vé máy bay của của người thân ở Mỹ về (nếu có).
Ghi chú: Sắp xếp hồ sơ như vậy thôi nhưng khi vào sơ vấn nhân viên sơ vấn sẽ lựa và sắp xếp lại theo ý họ. Tuy nhiên, làm như vậy sẽ khiến họ ít mất thời gian nên hài lòng hơn.
Chú ý: Khi nộp hồ sơ sơ vấn không nộp bằng chứng, bạn cần để ý xem họ hỏi hay yêu cầu làm gì để trả lời và thực hiện.
Bài của Jimmy
Bộ 1: Bản chính các loại giấy tờ:
Chứng minh nhân dân; Hộ chiếu; Hộ khẩu; Giấy đang ký kết hôn của người bảo lãnh + người được bảo lãnh chính; Khai sanh của từng đương đơn được bảo lãnh và người bảo lãnh, người đồng tài trợ
Mục đích của việc sắp xếp này là để khi sơ vấn nhân viên Lãnh sự dễ kiểm tra đối chiếu và không lấy nhầm bản chính của mình.
Bộ 2: Giấy tờ của các đương đơn
Người được bảo lãnh chính:
- 04 tấm hình 5x5cm chụp thẳng trên nền trắng bỏ vào một túi nhỏ (nhớ ghi tên họ, ngày tháng năm sinh, Case number phía sau) kẹp vào góc trái phía trên mẫu DS-230, bản photocopy CMND, Hộ chiếu, Bản chính Lý lịch tư pháp, Bản chính I-864, giấy khai thuế năm gân nhất (gồm W2 và I-1040), Giấy chứng nhận việc làm của người bảo lãnh và người đồng bảo trợ, thư báo tiền lương (nếu có), bản photocopy giấy chứng nhận Quốc tịch hoặc hộ chiếu của người bảo lãnh và người đồng bảo trợ, giấy đổi tên Việt sang tên Mỹ của người bảo lãnh và người đồng bảo trợ.
Người đi theo: Như người bảo lãnh chính
Tất cả giấy tờ ngoài DS-230 và lý lịch tư pháp là bản chính những giấy tờ còn lại đều là photocopy + thêm giấy chứng nhận độc thân cho nữ độc thân 18 tuổi trở lên và nam 20 tuổi trở lên.
Bộ 3: Kết quả khám sức khỏe xuất cảnh và phiếu chích ngừa màu vàng của từng thành viên (mỗi kẹp cho mỗi thành viên).
Bộ 4: Giấy tờ, bằng chứng, hình ảnh chứng minh mối quan hệ.
Gồm 05 kẹp (túi) nhỏ:
Túi 1: Giấy chuyển đi, chuyển đến (nếu có sự thay đổi hộ địa chỉ cư ngụ), Hộ khẩu cũ của gia đình lúc trước (nếu có), Sổ gia đình công giáo (nếu có).
Túi 2: Học bạ và bằng cấp của các thành viên trong gia đình.
Túi 3: Bưu gửi tiền + Điện thoại + Thư từ.
Túi 4: Hình ảnh:
- Cắt đôi tờ giấy A4 (theo chiều rộng) sắp xếp hình và dán theo thứ tự thời gian, bên dưới ghi chú thời gian, địa điểm, ai là người trong hình? Chụp với ai? (không cần nhiều hình, nên lựa những tấm hình có ý nghĩa nhất, tránh lựa những tấm hình quá đông người phải mất công ghi chú và giải thích với nhân viên Lãnh sự).
+ Hình này ta có thể bấm lại làm 04 Album:
Album 1: Người được bảo lãnh với người bảo lãnh:
Hình cưới hỏi của người bảo lãnh, hình đầy tháng thôi nôi, sinh nhật, du lịch, đám cưới … của người được bảo lãnh có mặt của người bảo lãnh.
Album 2: Hình của người bảo lãnh với các thành viên đi cùng.
- Hình đám hỏi, đám cưới, của người được bảo lãnh và hôn phối, hình đầy tháng, thôi nôi, sinh nhật, du lịch… của các con cùng với người được bảo lãnh chính.
Album 3: Hình ảnh của người bảo lãnh, người thân ở Mỹ (chụp ở nhà có địa chỉ, trang trí có hình ảnh gia đình…)
Album 4: Hình ảnh kỷ niệm (nếu có) của người được bảo lãnh và người đồng bảo trợ.
Túi 5: Sổ tạm trú, vé máy bay của của người thân ở Mỹ về (nếu có).
Ghi chú: Sắp xếp hồ sơ như vậy thôi nhưng khi vào sơ vấn nhân viên sơ vấn sẽ lựa và sắp xếp lại theo ý họ. Tuy nhiên, làm như vậy sẽ khiến họ ít mất thời gian nên hài lòng hơn.
Chú ý: Khi nộp hồ sơ sơ vấn không nộp bằng chứng, bạn cần để ý xem họ hỏi hay yêu cầu làm gì để trả lời và thực hiện.
Bài của Jimmy
Tín Dụng (credit) - Một vài điều cần biết
Lý lịch hạnh kiểm tín dụng của quý vị là gì?
Khi quý vị xin vay tiền hay nộp đơn xin thẻ tín dụng, công ty cho vay nhìn vào lý lịch hạnh kiểm tín dụng của quý vị để biết xem quý vị đáng tin ra sao trong việc trả lại tiền nợ hay tín dụng.
Tín dụng tốt giúp quý vị:
Tín dụng tốt và tín dụng xấu
Nếu quý vị có các thẻ tín dụng hay có vay tiền và trả đúng thời hạn yêu cầu, chắc chắn là quý vị có lý lịch hạnh kiểm tín dụng tốt. Một hồ sơ tín dụng tốt là kết quả của sự biết dùng tín dụng một cách khôn ngoan.
Người có hạnh kiểm tín dụng tốt có:
Tín dụng của quý vị có thể bị ảnh hưởng xấu chỉ vì:
Báo cáo tín dụng là một hồ sơ về các món nợ của quý vị, thẻ tín dụng, trả nợ và các món nợ còn thiếu mà chưa trả. Các dữ kiện này được cung cấp bởi các công ty mà đã từng cho quý vị tín dụng hay cho quý vị vay tiền (chủ nợ).
Các chủ nợ thường xuyên đưa các báo cáo về trương mục tín dụng của quý vị cho các công ty được gọi là văn phòng báo cáo tín dụng (credit report bureau). Các công ty này chuyên thâu lượm các dữ kiện về người tiêu thụ do chủ nợ cung cấp (chẳng hạn như ngân hàng, ngân hàng tiết kiệm và cho vay, ngân hàng nghiệp đoàn, các công ty tài chánh và các cửa hiệu). Các văn phòng báo cáo tín dụng lưu lại các dữ kiện này trong máy điện toán và cung cấp cho các chủ nợ khi quý vị nộp đơn xin một thẻ tín dụng hay mượn tiền. Các văn phòng báo cáo tín dụng không có quyết định trong việc cho vay tiền.
Khi quý vị nộp đơn xin một thẻ tín dụng hay mượn tiền, chủ nợ dùng báo cáo tín dụng của quý vị để quyết định xem quý vị có tín nhiệm đủ để cáng đáng thêm nợ hay không.
Bản báo cáo tín dụng của quý vị bao gồm:
Làm sao tôi lấy được một bản báo cáo tín dụng?
Theo luật liên bang, hằng năm quý vị có thể lấy được một bản báo cáo tín dụng miễn phí từ ba văn phòng cung cấp báo cáo tín dụng lớn nhất. Ba văn phòng này là:
Quý vị có quyền được một bản báo cáo tín dụng hàng năm từ mỗi trong ba văn phòng. Quý vị có thể yêu cầu cả ba báo cáo cùng lúc hay cách khoảng thời gian. Yêu cầu báo cáo tín dụng từ ba văn phòng vào những thời gian cách nhau trong năm có thể giúp quý vị cơ hội theo dõi báo cáo tín dụng thường xuyên hơn mà không phải mua thêm các bản báo cáo.
Quý vị sẽ cần cung cấp cho văn phòng tín dụng những chi tiết để họ có thể chứng nhận quý vị. Các chi tiết thường bao gồm:
Tại sao đơn xin vay tiền của tôi bị từ chối?
Nhiều người nộp đơn xin vay tiền bị từ chối. Nếu chuyện này xảy ra, chủ nợ phải cho biết tại sao đơn của quý vị bị bác. Trong đa số trường hợp, đơn bị bác nằm trong các trường hợp dưới.
Quý vị không có lý lịch hạnh kiểm tín dụng. Nếu quý vị chưa hề có tín dụng, nếu quý vị chỉ mới bắt đầu dùng thẻ tín dụng hay nếu quý vị hiện chưa dùng thẻ tín dụng, chủ nợ có thể từ chối cho quý vị vay tiền vì quý vị không có lý lịch hạnh kiểm tín dụng. Không có dữ kiện này, chủ nợ khó biết được quý vị có giữ hạnh kiểm tín dụng tốt hay không.
Nếu quý vị chưa hề có tín dụng, hay không dùng tín dụng trong một thời gian dài, quý vị có thể bắt đầu kiến tạo một lý lịch tín dụng (Xin coi phần "Làm thế nào tôi tạo dựng được một hạnh kiểm tín dụng tốt?").
Quý vị có quá nhiều tiền nợ trễ chưa trả. Các chủ nợ miễn cưỡng cho quý vị vay tiền nếu quý vị đã có một số tiền nợ lớn chưa trả. Khi các chủ nợ đánh giá đơn xin của quý vị, họ quan tâm tới tiền lương của quý vị, tiền giới hạn trong thẻ tín dụng hiện thời và các món nợ trả định kỳ để quyết định quý vị có thể trả được tiền nợ là bao nhiêu. Các chủ nợ thường phỏng đoán tới cảnh tượng tệ nhất có thể xảy ra – nếu như quý vị bỗng nhiên dùng tới mức tối đa tất cả tiền tín dụng trong thẻ, liệu rằng tiền lương của quý vị có thể trả nợ được không? Nếu câu trả lời là không, đơn của quý vị có thể bị bác.
Quý vị không cáng đáng trách nhiệm trả nợ trong quá khứ. Có bao giờ quý vị vay được tiền nhưng không thể nào cáng đáng trả một cách đàng hoàng? Nếu quý vị đã trả nợ trễ, đã không trả lại được tiền nợ hay khai phá sản, các chủ nợ sẽ không muốn cho quý vị một thẻ tín dụng mới hay cho vay thêm tiền. Để cải tổ lại bản báo cáo tín dụng của quý vị, quý vị phải trả nợ cũ và trả nợ đúng hẹn trong vòng nhiều tháng, ngay cả trong nhiều năm, trước khi quý vị sẽ được coi là người muốn giữ hạnh kiểm tín dụng tốt.
Quý vị là nạn nhân của sự lừa đảo. Một người gian trá có thể dùng tên của quý vị để làm một thẻ tín dụng. Một số người khám phá ra là họ là nạn nhân khi họ nộp đơn xin mượn tiền và bị bác. Quý vị không có trách nhiệm gì, nhưng nó khó để chứng minh quý vị là người muốn giữ hạnh kiểm tín dụng tốt cho đến khi tên của quý vị được sáng tỏ.
Một cách để coi chứng các loại lừa đảo như vậy là kiểm soát bản báo cáo tín dụng của quý vị ít nhất một năm một lần. Nếu quý vị tìm thấy một trương mục nào mà quý vị không biết đến, gọi cho cơ quan chống lừa đảo tín dụng ngay lập tức. Để ngăn ngừa bị lừa, coi cho kỹ các bản tường trình chi tiêu thẻ tín dụng và các bản tường trình chi tiêu khác.
Nếu như đơn xin mượn tiền của tôi bị bác?
Các chủ nợ sẽ giải thích cho quý vị lý do tại sao đơn của quý vị bị bác và họ cũng nói cho quý vị biết văn phòng báo cáo tín dụng nào cung cấp báo cáo tín dụng của quý vị.
Nếu quý vị đã bị từ chối, quý vị đương nhiên xin được một bản sao miễn phí trong 60 ngày. Liên lạc với công ty báo cáo tín dụng bằng điện thoại để có một bản.
Nếu quý vị chưa từng có tín dụng và lý do bị từ chối dựa trên lý lịch hạnh kiểm tín dụng không đủ, việc liên lạc với văn phòng tín dụng không giúp gì được cho quý vị cả.
Sau khi duyệt qua bản báo cáo tín dụng của quý vị, nếu quý vị cảm thấy có điều sai lầm, liên lạc với văn phòng báo cáo tín dụng. Quý vị có quyền vạch ra bất cứ dữ kiện sai lầm nào trong bản báo cáo tín dụng của quý vị và tranh cãi. Tiến trình tranh cãi thì đơn giản — quý vị chỉ cần gọi số phục vụ khách hàng có ghi trong bản báo cáo là xong.
Văn phòng báo cáo tín dụng sẽ liên lạc với người cho vay tín dụng nào đã đưa tin tức xấu hay không đúng về quý vị. Trong lúc đó dữ kiện còn trong vòng tranh cãi sẽ được xóa đi trong bản báo cáo của quý vị, nhưng nó sẽ được ghi vào trở lại nếu như chủ nợ nóivới văn phòng dữ kiện đó chính xác.
Nếu chuyện này xảy ra, quý vị có quyền viết thêm tối đa là 100 chữ để giải thích từ phía quý vị về bản báo cáo tín dụng của mình. Khi quý vị nộp đơn xin mượn tiền, chủ nợ có thể chú ý tới lời biện giải này.
Làm thế nào tôi thiết lập một hạnh kiểm tín dụng tốt?
Ba ý kiến dưới đây giúp quý vị thiết lập một hạnh kiểm tín dụng tốt. Nếu quý vị thành công trong việc mở một trương mục, và sử dụng nó một cách có trách nhiệm trong một hay hai năm, quý vị sẽ bắt đầu gầy dựng một lý lịch hạnh kiểm tín dụng tốt.
Yêu cầu một công ty địa phương cho một tín dụng. Thử hỏi nhà băng, ngân hàng nghiệp đoàn hay một tiệm bán hàng địa phương của quý vị. Nhưng nên biết chắc là công ty này sẽ gởi dữ kiện trương mục tín dụng của quý vị tới một hay vài văn phòng báo cáo tín dụng để quý vị sẽ được giúp quý vị thiết lập một lý lịch hạnh kiểm tín dụng.
Kiếm một người đứng tên phụ (co-signer). Hỏi họ hàng hay bạn bè có hạnh kiểm tín dụng tốt đứng tên phụ cho đơn xin mượn tiền của quý vị. Người đứng tên phụ hứa sẽ trả tiền cho quý vị nếu như quý vị không trả được. Nếu quý vị không trả tiền đúng thời hạn, người đứng tên phụ sẽ mang trách nhiệm trả món nợ. Quý vị sẽ làm phương hại đến tín dụng của thân nhân hay bạn bè của quý vị nếu quý vị không trả được tiền nợ.
Làm một thẻ tín dụng bảo đảm (secured). Một thẻ tín dụng bảo đảm là một thẻ tín dụng của nhà băng được bảo đảm bằng tiền quý vị ký thác trong trương mục nhà băng. Nếu quý vị không trả tiền nợ tín dụng trong hóa đơn, tiền trong trương mục của quý vị có thể bị dùng để trả cho món nợ.
Đi hỏi nhiều chỗ để kiếm thẻ tín dụng bảo đảm tốt. Quý vị có thể so sánh các tin tức về tín dụng bảo đảm tại www.bankrate.com trên mạng lưới điện toán. Trước khi nộp đơn, phải biết chắc là nơi cấp thẻ sẽ gởi tin tức về trương mục tín dụng của quý vị tới văn phòng báo cáo tín dụng. Đi tìm một thẻ tín dụng bảo đảm với:
Nhiều công ty cấp thẻ tín dụng không bảo đảm cho người không có lý lịch tín dụng hay hạnh kiểm tín dụng bị xấu. Đây có thể là các lựa chọn tín dụng tốn kém vì nhiều nhà băng có:
Các lựa chọn về dịch vụ thẻ tín dụng
Công ty cấp thẻ tín dụng cho quý vị có thể đưa ra các dịch vụ và sản phẩm với lệ phí đi kèm:
Quyền lợi của quý vị
Luật Fair Credit Reporting Act là luật của chính phủ liên bang để kiểm soát văn phòng báo cáo tín dụng và ngăn cấm các tin tức không đúng hay không hiện hữu bị cho vào hồ sơ tín dụng.
Quý vị có quyền xin được một bản sao báo cáo hạnh kiểm tín dụng của mình hàng năm từ mỗi trong ba công ty báo cáo tín dụng (Xem phần "Làm sao tôi lấy được một bản báo cáo tín dụng?"). Khi quý vị nhận được bản báo cáo, kiểm tra kỹ càng tất cả các dữ kiện, bao gồm tất cả các số trương mục và hồ sơ trả nợ. Nên biết chắc các trương mục cũ mà quý vị đã đóng được liệt kê đàng hoàng với hàng chữ “đóng với sự đồng ý của người tiêu thụ” tức “closed at the consumer’s request.”
Quý vị có quyền sửa lại các lỗi lầm trong bản báo cáo tín dụng của quý vị. Trong bản báo cáo tín dụng của quý vị có đính kèm một mẫu thơ giải thích cần phải làm gì tranh cãi về các tin tức không đúng.
Sau khi quý vị bắt đầu với tiến trình tranh cãi, văn phòng tín dụng phải kiểm tra lại với nguồn cung cấp tin tức và gởi cho quý vị một bản báo cáo mới. Văn phòng phải hồi đáp lại sự tranh cãi của quý vị trong thời gian ngắn. Trong đa số trường hợp, quý vị phải nhận được sự hồi đáp trong vòng 30 tới 45 ngày.
Nếu như sau khi nhận được sự hồi đáp từ văn phòng, quý vị không đồng ý với sự hồi đáp này, quý vị có thể viết thêm một thơ biện giải từ phía quý vị trong vòng 100 chữ tới văn phòng báo cáo tín dụng để đính kèm vào hồ sơ tín dụng để trình bày trên khía cạnh của mình.
Luật cũng quản lý thời hạn các chi tiết được lưu giữ trong hồ sơ tín dụng của quý vị. Những công khoản đã trả dứt vẫn được ghi lại trong hồ sơ. Nếu quý vị cáng đáng trả nợ tín dụng tốt, các chi tiết đó sẽ nằm trong báo cáo tín dụng trong 10 năm sau khi đã trả dứt hay đóng công khoản. Các chi tiết xấu, như việc trả trễ, sẽ nằm trong hồ sơ quý vị đến 7 năm, và chi tiết phá sản có thể nằm trong hồ sơ đến 10 năm.
Khiếu nại ở đâu
Để khiếu nại về văn phòng báo cáo tín dụng, các tiệm bán hàng hay các ngân hàng không được chính phủ liên bang bảo hiểm, viết cho Trung Tâm Consumer Response Center, Federal Trade Commission (FTC), Washington, DC 20580. Quý vị cũng có thể điền đơn khiếu nại trên mạng lưới điện toán FTC (www.ftc.gov).
Để khiếu nại về chủ nợ hay công ty cấp thẻ tín dụng, gọi cho công ty đó và hỏi tên và địa chỉ của văn phòng điều hành của công ty này. Gởi thơ khiếu nại của quý vị tới đó, và gởi một bản tới bộ Tư Pháp (Attorney General) ở tiểu bang của quý vị.
Mạo nhận thẻ tín dụng (credit card fraud) có thể xảy ra khi người tiêu thụ đưa số thẻ tín dụng của mình cho người không quen biết, khi thẻ tín dụng bị thất lạc hay mất trộm, khi thư bị chuyển đi nơi khác thay vì đến người nhận và bị người gian lấy cắp, hay khi người làm công của một cơ sở kinh doanh sao lại thẻ tín dụng hay số tín dụng của khách hàng. Sau đó,
Tiêu dùng tín dụng trái phép từ thẻ tín dụng của nạn nhân bị gian lận.
Thẻ bị làm giả mạo với số thẻ tín dụng của nạn nhân bị mạo nhận.
Trộm danh tính (identity theft) là việc sử dụng trái phép các chi tiết cá nhân của một người nào đó – như số an sinh xã hội hay ngày sinh – để gian lận tiền.
Kẻ trộm danh tính có thể gây ra tai hại và rắc rối cho nạn nhân bị gian lận bằng cách dùng tên và các chi tiết cá nhân khác của người đó để làm việc gian tà, như mở trương mục thẻ tín dụng mới và vào được các trương mục tín dụng và trương mục trong nhà băng đã có sẵn.
Cho dù nạn nhân của sự trộm danh tính không bị buộc chịu trách nhiệm cho sự mạo nhận, nhưng người bị mạo nhận cũng phải tốn rất nhiều công sức để chứng minh sự mạo nhận và giải quyết sự rắc rối về tài chánh do việc mạo nhận gây ra.
Cào lén (skimming) là sao lại trái phép thẻ tín dụng hay thẻ ngân hàng bằng một dụng cụ đọc và sao lại dữ kiện từ thẻ gốc.
Các nhân viên bất lương làm trong các cơ sở thương mại dùng các máy nhỏ được gọi là “skimmers” để đọc số và các dữ kiện khác từ các thẻ tín dụng và bán lại cho các kẻ gian tà.
Kẻ gian dùng các dữ kiện để làm các thẻ giả hay để mua hàng qua điện thoại hay qua mạng điện toán.
Câu móc (phishing) là việc gửi rất nhiều thư điện toán giả tạo đến người tiêu thụ, giả vờ như các thơ nhắn đó là từ ngân hàng của người nhận, nhằm dụ nạn nhân tiết lộ chi tiết cá nhân, như số trương mục ngân hàng.
Câu móc trở thành một thủ đoạn phố biến của kẻ gian đểthành công trong việc trộm cắp chi tiết cá nhân qua thư điện toán của nhiều người. Tội ác thành công vì các thư điện toán đó trông rất hợp pháp, với nhãn hiệu và địa chỉ mạng lưới điện toán, hay URL, giống như thật của ngân hàng.
Khi người có trương mục ngân hàng hồi đáp các thư điện toán, họ được chuyển đến một trang điện toán giả và được mời đánh vào số trương mục, mật mã và các chi tiết trương mục cá nhân hay chi tiết tín dụng. Sau đó, chỉ trong vài giờ, kẻ gian sẽ rút hết ngân quỹ của nạn nhân bằng cách dùng mật mã để uỷ thác ngân quỹ sang các ngân quỹ khác của họ.
Ngân hàng không bao giờ hỏi các chi tiết cá nhân qua cách này. Ðừng hồi đáp các thư điện toán hay điện thoại hỏi quý vị số thẻ tín dụng, số an sinh xã hội hay tên thật của mẹ quý vị.
Cho dù đó là một yêu cầu chính đáng, các ngân hàng cũng yêu cầu quý vị đừng bao giờ gửi các chi tiết trương mục qua thư điện toán, vì các thư đó không được an toàn và các chi tiết đó có thể bị kẻ gian xem được. Thay vào đó, hãy ghé đến ngân hàng, dùng các trang điện toán an toàn của ngân hàng, gọi qua điện thoại hay viết thư khi quý vị muốn giải quyết một tranh chấp với một doanh thương hay ngân hàng của quý vị.
Các số an toàn (security codes) là 3 hay 4 số nằm mặt sau của thẻ tín dụng được dùng bởi vài doanh thương để minh xác thẻ tín dụng là của quý vị khi quý vị mua hàng qua điện thoại hay qua mạng lưới điện toán.
Số thẻ nằm phía trên góc phải của thẻ Visa và Mastercard, hay nằm mặt sau thẻ, theo sau các số thẻ được in, gần nơi quý vị ký tên trên thẻ tín dụng.
Nếu số thẻ tín dụng của quý vị và ngày thẻ hết hạn bị ăn cắp, nhưng quý vị vẫn còn giữ thẻ, kẻ trộm không thể có được số an toàn mà nhiều doanh thương đòi hỏi khi mua hàng qua mạng điện toán.
Thẻ Tín Dụng Mới
Ðể bảo vệ sự an toàn, hầu hết các công ty cấp thẻ tín dụng hiện nay yêu cầu quý vị gọi điện thoại từ nhà để hiệu lực hoá thẻ tín dụng mới trước khi quý vị sử dụng thẻ.
Ký tên vào mặt sau thẻ với bút mực đen không phai ngay khi nhận được thẻ.
Vài người đề nghị quý vị viết “hỏi thẻ căn cước” (ask for ID) trên chỗ ký tên. Ðây không phải là ý kiến tốt. Nên nghĩ đến việc ký tên vào thẻ thay vì ghi “ hỏi thẻ căn cước.” Nhiều công ty cấp thẻ tín dụng cố vấn các nhà buôn đừng bán hàng nếu thẻ tín dụng không được ký tên.
Nên ghi tất cả số trương mục và địa chỉ liên lạc của công ty và giữ hồ sơ ở nơi an toàn, kín đáo.
Giữ bản sao biên lai và biên nhận từ máy rút tiền tự động ATM, để quý vị có thể dò lại với các hóa đơn tính tiền hàng tháng.
Bảo Vệ Bóp Hay Ví Của Quý Vị
Ðể ý đến đồ vật cầm theo.
Ðừng bao giờ mang theo tất cả thẻ tín dụng –chỉ mang một hay hai thẻ quý vị nghĩ là cần đến.
Cất thẻ tín dụng ở chỗ khác với bóp, giữ riêng rẽ trong một hộp đựng thẻ tín dụng, hay trong một ngăn khác trong ví.
Nếu bóp hay ví bị trộm, khai báo ngay đến các công ty tín dụng.
Tránh Thư Từ Gian Lận
Thông báo cho sở bưu điện biết ngay nếu quý vị thay đổi địa chỉ.
Giữ hộp thư cho an toàn và luôn luôn khóa lại cho chắc ăn. Ðừng bao giờ để thư trả các hóa đơn hàng tháng trong hộp thư không khoá hay tại hành lang chung cư.
Ðiện thoại thông báo cho các công ty tín dụng và ngân hàng khi quý vị thay đổi địa chỉ.
Luôn luôn ghi địa chỉ hồi đáp của quý vị trên bao thư.
Xé vụn các thư mời mọc cho thẻ tín dụng mà quý vị không cần đến trước khi vứt bỏ.
Biết rõ các ngày hóa đơn tín dụng và các hóa đơn khác sẽ được gửi về, và điện thoại cho các công ty đó nếu quý vị không nhận được các thư của họ.
An Toàn Trên Mạng Lưới Điện Toán
Nếu quý vị sử dụng các dịch vụ ngân hàng trên mạng lưới điện toán, đừng dùng dịch vụ “tự động ghi danh” (automatic sign on) của ngân hàng hay của thẻ tín dụng.
Vài mạng lưới mời mọc “dùng miễn phí” (free access) nếu quý vị cung cấp số thẻ tín dụng của quý vị. Tránh xa các mạng đó – rất có thể thẻ tín dụng của quý vị sẽ bị tính tiền bởi công ty mà quý vị cho số thẻ của mình, và có thể bởi các công ty mà quý vị chưa từng biết đến.
Bảo Vệ Chi Tiết Cá Nhân Của Mình
Ðừng bao giờ viết mã số danh tính cá nhân (personal identication number, PIN) – nhớ thuộc lòng số đó.
Ðừng bao giờ đưa số PIN cho người khác.
Ðừng viết số PIN trên thẻ của quý vị.
Ðừng viết số thẻ tín dụng trên bưu thiếp hay bên ngoài bao thư quý vị sẽ gửi đi.
Ðừng giữ số PIN cùng nơi cất giữ thẻ tín dụng hay thẻ rút tiền tự động ATM.
Ðừng bao giờ cho biết số thẻ tín dụng hay các chi tiết cá nhân khác qua điện thoại, trừ khi quý vị có thể tin được người quý vị nói chuyện qua điện thoại là từ một ngân hàng hay một doanh thương đứng đắn.
Ðừng cho người nào khác mượn thẻ tín dụng của quý vị, vì quý vị sẽ phải chịu trách nhiệm cho tất cả chi tiêu từ thẻ. Quý vị sẽ không thể được bảo vệ cho các sự chi tiêu trái phép nếu các chi tiêu đó từ người quý vị biết và tự nguyện đưa thẻ, bao gồm gia đình và bè bạn.
Ðừng đưa số thẻ cho bất cứ ai điện thoại đến cho quý vị hay gửi thư điện toán.
Sử Dụng Thẻ Của Quý Vị
Ðể ý cẩn thận nhân viên các cửa hiệu và quán ăn dùng thẻ tín dụng của quý vị như thế nào để biết chắc rằng họ không sao chép hay “cà lén” thẻ tín dụng của quý vị. Các dụng cụ dùng để cà số thẻ tín dụng có khi được ngụy trang trông giống như các máy điện thoại di động.
Sau khi quý vị mua hàng và thẻ được trả lại, hãy xem kỹ thẻ đó có đúng thẻ tín dụng của quý vị.
Nếu quý vị sắp đi du lịch và định dùng thẻ tín dụng khi xa nhà, nên báo trước cho công ty tín dụng. Việc này sẽ tránh trương mục tín dụng của quý vị bị cảnh báo và bị chặn vì nghi là có thể có sự gian lận xảy ra cũng như tránh bất cứ sự phiền phức nào quý vị có thể phải chịu nếu công ty cấùp thẻ ngưng không cho quý vị sử dụng trương mục tính dụng chỉ vì quý vị dùng nó ở nơi xa lạ.
Nếu quý vị định mua một món hàng nhiều tiền, nên báo cho công ty tín dụng biết để thẻ của quý vị không bị cảnh báo có dấu hiệu mạo nhận xảy ra. Thí dụ, nếu quý vị sửa sang nhà cửa của mình và định mua đồ đạc, vật dụng cố định hay máy tiện dụng trong nhà, nên báo cho công ty tín dụng biết trước.
Công Ty Tín Dụng Của Quý Vị
Người tiêu thụ không phải chịu trách nhiệm cho những tiêu dùng tín dụng trái phép (nếu người đó hành động có trách nhiệm và thông báo khi thẻ tín dụng bị thất lạc hay mất cắp), nhưng các công ty tín dụng khai báo sự thất thoát gần 50 tỷ mỹ kim hàng năm vì nạn gian lận tín dụng.
Hầu hết các công ty tín dụng đều thiết lập kỹ thuật để giúp nhận biết các hành vi mạo nhận và sẽ hành xử nhanh chóng để ngăn chận việc sử dụng trái phép một khi họ nhận ra điều đó.
Công ty tín dụng sẽ liên lạc với quý vị khi họ thấy có một chi tiêu lớn, hay khi thẻ được dùng tại một thành phố hay tại một nước xa nhà của quý vị. Thỉnh thoảng, thẻ tín dụng của quý vị có thể bị chặn hay không được dùng cho đến khi quý vị gọi đến công ty tín dụng. Việc này xảy ra để bảo vệ cho quý vị và công ty tín dụng.
Nên nhớ cập nhật hồ sơ của quý vị với công ty tín dụng khi quý vị đổi địa chỉ. Nhiều doanh thương kiểm chứng địa chỉ và số bưu chính (ZIP) để so sánh với hồ sơ của ngân hàng.
Ðể tránh bất cứ sự phiền phức nào, nên liên lạc với công ty tín dụng nếu quý vị định đi xa hay mua hàng nhiều tiền..
Hóa Đơn Tính Tiền Của Quý Vị
Kiểm tra bản tường trình chi tiêu tín dụng cho kỹ khi hóa đơn về đến.
Nếu quý vị có mạng lưới điện toán, nên nghĩ đến việc dùng thẻ tín dụng cấp bởi ngân hàng nào cho phép quý vị vào trương mục của mình qua mạng điện toán. Quý vị có thể vào trương mục của mình qua mạng để theo dõi các chi tiêu trái phép trong khoảng thời gian trước khi nhận được hóa đơn hàng tháng.
Báo cáo ngay cho công ty tín dụng của quý vị các chi tiêu hồ nghi.
Nếu một trong các hóa đơn tính tiền tín dụng của quý vị gửi đến trễ, nên liên lạc ngay với công ty tín dụng.
Một hóa đơn bị thất lạc có thể là dấu hiệu cho thấy hóa đơn của quý vị bị trộm. Hãy gọi đến công ty tín dụng của quý vịï nếu quý vị không nhận được hóa đơn như thường lệ. (Quý vị có trách nhiệm phải trả tiền cho dù quý vị không nhận được hóa đơn.)
Cất giữ các hóa đơn và biên nhận cũ ở nơi an toàn và cho vào máy cắt vụn hay xé nhỏ trước khi vứt bỏ.
Khai Báo Gian Lận Tín Dụng
Luật Hoá Ðơn Tín Dụng Công Bằng (Fair Credit Billing Act) là luật liên bang cho quý vị quyền giải quyết các lỗi lầm trong hóa đơn tín dụng, kể cả các chi tiêu trái phép.
Khi quý vị mua hàng hay sử dụng các dịch vụ bằng thẻ tín dụng và có điều gì sai trái xảy ra trong việc mua bán đó, quý vị có quyền tranh cãi về chi tiêu này và yêu cầu sự trả lại (chargeback) là sự hoàn trả từ công ty tín dụng.
Ðể tranh cãi các chi tiêu trong hóa đơn, hãy liên lạc đến công ty tín dụng trong vòng 60 ngày tính từ ngày ghi trên hóa đơn nếu không quý vị sẽ mất quyền tranh cãi.
Quý vị không thể tranh cãi khoản chi tiêu chưa ghi vào trương mục của quý vị, nhưng đối với trương mục qua mạng điện toán, quý vị có thể xem xét các chi tiêu đã ghi vào trương mục hằng ngày và chủ động trong trương mục tín dụng của mình hơn.
Luôn luôn tranh cãi các chi tiêu qua thư từ. Quý vị có thể gọi đến công ty tín dụng và sau đó bằng thư viết. Trong một vài trường hợp, công ty tín dụng sẽ gửi đến quý vị một mẫu đơn để điền vào việc quý vị muốn tranh cãi. Ghi xuống rõ ràng về món hàng muốn tranh cãi – bao gồm tên doanh thương, ngày mua, giá tiền món hàng và ngày phải trả tiền món hàng được ghi trên hoá đơn. Trình bày lý do tranh cãi trong vài hàng. Nên nhớ gửi thư và đơn tranh cãi, nếu được yêu cầu, gởi đến đúng địa chỉ cho việc tranh cãi hoá đơn.
Ðừng gửi thư tranh cãi kèm theo tiền trả hóa đơn hàng tháng.
Khi Gặp Sự Mạo Nhận
Ðiện thoại đến công ty tín dụng ngay nếu thẻ tín dụng của quý vị bị thất lạc hay bị trộm.
Sau khi gọi điện thoại, việc kế đến là viết thư đến công ty tín dụng. Thư cần ghi số thẻ tín dụng, ngày thẻ bị mất, và ngày quý vị khai báo.
Một khi quý vị khai báo thẻ bị mất, quý vị không phải chịu trách nhiệm cho bất cứ sự tiêu xài nào trái phép.
Cho dù quý vị khai báo trễ, hay quý vị không biết đến những tiêu xài trái phép cho đến khi nhận được hóa đơn hàng tháng, theo luật liên bang, trách nhiệm phải trả của quý vị chỉ hạn chế trong 50 mỹ kim cho mỗi thẻ. Tuy nhiên, quý vị có thể bị mất sự bảo vệ của luật pháp nếu quý vị lơ đễnh không khai báo bị mất thẻ hay về các chi tiêu trái phép một cách nhanh chóng.
Khi khai báo sự mạo nhận thẻ tín dụng, quý vị sẽ được gửi một bản khai để quý vị điền vào, ký tên, và gửi trả lại.
Gửi bản khai bị mạo nhận ngay.
(nguồn: consumer - action)
Khi quý vị xin vay tiền hay nộp đơn xin thẻ tín dụng, công ty cho vay nhìn vào lý lịch hạnh kiểm tín dụng của quý vị để biết xem quý vị đáng tin ra sao trong việc trả lại tiền nợ hay tín dụng.
Tín dụng tốt giúp quý vị:
- Mua nhà.
- Kiếm được việc.
- Mở được trương mục hóa đơn điện thoại, khí đốt và điện, nước hay dầu đốt lò sưởi.
- Mướn một căn chung cư.
- Mua các món hàng “nặng tiền” (bàn ghế, đồ điện hay các máy dùng trong nhà) mà không trả bằng tiền mặt.
- Mượn tiền mua xe.
- Hội đủ điều kiện được bảo hiểm.
- Mượn tiền.
- Xin được thẻ tín dụng.
Tín dụng tốt và tín dụng xấu
Nếu quý vị có các thẻ tín dụng hay có vay tiền và trả đúng thời hạn yêu cầu, chắc chắn là quý vị có lý lịch hạnh kiểm tín dụng tốt. Một hồ sơ tín dụng tốt là kết quả của sự biết dùng tín dụng một cách khôn ngoan.
Người có hạnh kiểm tín dụng tốt có:
- Tạo dựng tín dụng – họ đã từng mượn tiền và sử dụng thẻ tín dụng.
- Một hồ sơ chứng minh họ ít ra có trả khoản tiền tối thiểu đúng kỳ hạn – đúng ngày hết hạn trả - và xài tiền trong phạm vi thẻ tín dụng cho phép.
- Chỉ xin mượn tiền hay thẻ tín dụng mà họ có khả năng trả lại. Đừng xin quá mức – chỉ xin thẻ tín dụng nào quý vị có thể trả được.
Tín dụng của quý vị có thể bị ảnh hưởng xấu chỉ vì:
- Trả nợ trễ.
- Trả ít hơn là số tiền tối thiểu cần phải trả.
- Có quá nhiều thẻ tín dụng với tiền nơ lớn hay tiền tín dụng có sẵn quá nhiều – ngay cả quý vị có trả tiền đúng thời hạn.
- Các món nợ trễ chưa trả bị chuyển tới văn phòng tịch thâu (collection agency).
- Tuyên bố phá sản.
- Bị lệnh từ tòa rút tiền thẳng từ ngân phiếu tiền lương của quý vị để trả nợ (garnishment).
Báo cáo tín dụng là một hồ sơ về các món nợ của quý vị, thẻ tín dụng, trả nợ và các món nợ còn thiếu mà chưa trả. Các dữ kiện này được cung cấp bởi các công ty mà đã từng cho quý vị tín dụng hay cho quý vị vay tiền (chủ nợ).
Các chủ nợ thường xuyên đưa các báo cáo về trương mục tín dụng của quý vị cho các công ty được gọi là văn phòng báo cáo tín dụng (credit report bureau). Các công ty này chuyên thâu lượm các dữ kiện về người tiêu thụ do chủ nợ cung cấp (chẳng hạn như ngân hàng, ngân hàng tiết kiệm và cho vay, ngân hàng nghiệp đoàn, các công ty tài chánh và các cửa hiệu). Các văn phòng báo cáo tín dụng lưu lại các dữ kiện này trong máy điện toán và cung cấp cho các chủ nợ khi quý vị nộp đơn xin một thẻ tín dụng hay mượn tiền. Các văn phòng báo cáo tín dụng không có quyết định trong việc cho vay tiền.
Khi quý vị nộp đơn xin một thẻ tín dụng hay mượn tiền, chủ nợ dùng báo cáo tín dụng của quý vị để quyết định xem quý vị có tín nhiệm đủ để cáng đáng thêm nợ hay không.
Bản báo cáo tín dụng của quý vị bao gồm:
- Các món tiền trả nợ hiện thời và trong quá khứ - quý vị trả tiền đúng hạn hay trễ.
- Các dữ kiện về quý vị từ hồ sơ công cộng, như phá sản hay tiền thuế bất động sản chưa trả xong.
- Trễ hạn trả tiền trợ giúp nuôi con.
- Tên của từng người hỏi về bản sao báo cáo tín dụng mới đây.
- Dữ kiện về chủng tộc, tôn giáo, đảng phái chính trị, lý lịch sức khỏe, lối sống, lý lịch cá nhân hay hồ sơ phạm pháp của quý vị.
Làm sao tôi lấy được một bản báo cáo tín dụng?
Theo luật liên bang, hằng năm quý vị có thể lấy được một bản báo cáo tín dụng miễn phí từ ba văn phòng cung cấp báo cáo tín dụng lớn nhất. Ba văn phòng này là:
- Experian: 888-397-3742 www.experian.com
- Equifax: 800-685-1111 www.equifax.com
- TransUnion: 800-916-8800 www.transunion.com
Quý vị có quyền được một bản báo cáo tín dụng hàng năm từ mỗi trong ba văn phòng. Quý vị có thể yêu cầu cả ba báo cáo cùng lúc hay cách khoảng thời gian. Yêu cầu báo cáo tín dụng từ ba văn phòng vào những thời gian cách nhau trong năm có thể giúp quý vị cơ hội theo dõi báo cáo tín dụng thường xuyên hơn mà không phải mua thêm các bản báo cáo.
Quý vị sẽ cần cung cấp cho văn phòng tín dụng những chi tiết để họ có thể chứng nhận quý vị. Các chi tiết thường bao gồm:
- Tên họ, bao gồm tên lót và tên đệm phía sau (Jr., Sr., hay III) nếu có.
- Địa chỉ hiện thời và các địa chỉ trong khoảng hai tới năm năm về trước, tùy theo từng văn phòng.
- Số an sinh xã hội.
- Ngày sinh.
- Chỗ làm hiện thời.
- Số điện thoại.
Tại sao đơn xin vay tiền của tôi bị từ chối?
Nhiều người nộp đơn xin vay tiền bị từ chối. Nếu chuyện này xảy ra, chủ nợ phải cho biết tại sao đơn của quý vị bị bác. Trong đa số trường hợp, đơn bị bác nằm trong các trường hợp dưới.
Quý vị không có lý lịch hạnh kiểm tín dụng. Nếu quý vị chưa hề có tín dụng, nếu quý vị chỉ mới bắt đầu dùng thẻ tín dụng hay nếu quý vị hiện chưa dùng thẻ tín dụng, chủ nợ có thể từ chối cho quý vị vay tiền vì quý vị không có lý lịch hạnh kiểm tín dụng. Không có dữ kiện này, chủ nợ khó biết được quý vị có giữ hạnh kiểm tín dụng tốt hay không.
Nếu quý vị chưa hề có tín dụng, hay không dùng tín dụng trong một thời gian dài, quý vị có thể bắt đầu kiến tạo một lý lịch tín dụng (Xin coi phần "Làm thế nào tôi tạo dựng được một hạnh kiểm tín dụng tốt?").
Quý vị có quá nhiều tiền nợ trễ chưa trả. Các chủ nợ miễn cưỡng cho quý vị vay tiền nếu quý vị đã có một số tiền nợ lớn chưa trả. Khi các chủ nợ đánh giá đơn xin của quý vị, họ quan tâm tới tiền lương của quý vị, tiền giới hạn trong thẻ tín dụng hiện thời và các món nợ trả định kỳ để quyết định quý vị có thể trả được tiền nợ là bao nhiêu. Các chủ nợ thường phỏng đoán tới cảnh tượng tệ nhất có thể xảy ra – nếu như quý vị bỗng nhiên dùng tới mức tối đa tất cả tiền tín dụng trong thẻ, liệu rằng tiền lương của quý vị có thể trả nợ được không? Nếu câu trả lời là không, đơn của quý vị có thể bị bác.
Quý vị không cáng đáng trách nhiệm trả nợ trong quá khứ. Có bao giờ quý vị vay được tiền nhưng không thể nào cáng đáng trả một cách đàng hoàng? Nếu quý vị đã trả nợ trễ, đã không trả lại được tiền nợ hay khai phá sản, các chủ nợ sẽ không muốn cho quý vị một thẻ tín dụng mới hay cho vay thêm tiền. Để cải tổ lại bản báo cáo tín dụng của quý vị, quý vị phải trả nợ cũ và trả nợ đúng hẹn trong vòng nhiều tháng, ngay cả trong nhiều năm, trước khi quý vị sẽ được coi là người muốn giữ hạnh kiểm tín dụng tốt.
Quý vị là nạn nhân của sự lừa đảo. Một người gian trá có thể dùng tên của quý vị để làm một thẻ tín dụng. Một số người khám phá ra là họ là nạn nhân khi họ nộp đơn xin mượn tiền và bị bác. Quý vị không có trách nhiệm gì, nhưng nó khó để chứng minh quý vị là người muốn giữ hạnh kiểm tín dụng tốt cho đến khi tên của quý vị được sáng tỏ.
Một cách để coi chứng các loại lừa đảo như vậy là kiểm soát bản báo cáo tín dụng của quý vị ít nhất một năm một lần. Nếu quý vị tìm thấy một trương mục nào mà quý vị không biết đến, gọi cho cơ quan chống lừa đảo tín dụng ngay lập tức. Để ngăn ngừa bị lừa, coi cho kỹ các bản tường trình chi tiêu thẻ tín dụng và các bản tường trình chi tiêu khác.
Nếu như đơn xin mượn tiền của tôi bị bác?
Các chủ nợ sẽ giải thích cho quý vị lý do tại sao đơn của quý vị bị bác và họ cũng nói cho quý vị biết văn phòng báo cáo tín dụng nào cung cấp báo cáo tín dụng của quý vị.
Nếu quý vị đã bị từ chối, quý vị đương nhiên xin được một bản sao miễn phí trong 60 ngày. Liên lạc với công ty báo cáo tín dụng bằng điện thoại để có một bản.
Nếu quý vị chưa từng có tín dụng và lý do bị từ chối dựa trên lý lịch hạnh kiểm tín dụng không đủ, việc liên lạc với văn phòng tín dụng không giúp gì được cho quý vị cả.
Sau khi duyệt qua bản báo cáo tín dụng của quý vị, nếu quý vị cảm thấy có điều sai lầm, liên lạc với văn phòng báo cáo tín dụng. Quý vị có quyền vạch ra bất cứ dữ kiện sai lầm nào trong bản báo cáo tín dụng của quý vị và tranh cãi. Tiến trình tranh cãi thì đơn giản — quý vị chỉ cần gọi số phục vụ khách hàng có ghi trong bản báo cáo là xong.
Văn phòng báo cáo tín dụng sẽ liên lạc với người cho vay tín dụng nào đã đưa tin tức xấu hay không đúng về quý vị. Trong lúc đó dữ kiện còn trong vòng tranh cãi sẽ được xóa đi trong bản báo cáo của quý vị, nhưng nó sẽ được ghi vào trở lại nếu như chủ nợ nóivới văn phòng dữ kiện đó chính xác.
Nếu chuyện này xảy ra, quý vị có quyền viết thêm tối đa là 100 chữ để giải thích từ phía quý vị về bản báo cáo tín dụng của mình. Khi quý vị nộp đơn xin mượn tiền, chủ nợ có thể chú ý tới lời biện giải này.
Làm thế nào tôi thiết lập một hạnh kiểm tín dụng tốt?
Ba ý kiến dưới đây giúp quý vị thiết lập một hạnh kiểm tín dụng tốt. Nếu quý vị thành công trong việc mở một trương mục, và sử dụng nó một cách có trách nhiệm trong một hay hai năm, quý vị sẽ bắt đầu gầy dựng một lý lịch hạnh kiểm tín dụng tốt.
Yêu cầu một công ty địa phương cho một tín dụng. Thử hỏi nhà băng, ngân hàng nghiệp đoàn hay một tiệm bán hàng địa phương của quý vị. Nhưng nên biết chắc là công ty này sẽ gởi dữ kiện trương mục tín dụng của quý vị tới một hay vài văn phòng báo cáo tín dụng để quý vị sẽ được giúp quý vị thiết lập một lý lịch hạnh kiểm tín dụng.
Kiếm một người đứng tên phụ (co-signer). Hỏi họ hàng hay bạn bè có hạnh kiểm tín dụng tốt đứng tên phụ cho đơn xin mượn tiền của quý vị. Người đứng tên phụ hứa sẽ trả tiền cho quý vị nếu như quý vị không trả được. Nếu quý vị không trả tiền đúng thời hạn, người đứng tên phụ sẽ mang trách nhiệm trả món nợ. Quý vị sẽ làm phương hại đến tín dụng của thân nhân hay bạn bè của quý vị nếu quý vị không trả được tiền nợ.
Làm một thẻ tín dụng bảo đảm (secured). Một thẻ tín dụng bảo đảm là một thẻ tín dụng của nhà băng được bảo đảm bằng tiền quý vị ký thác trong trương mục nhà băng. Nếu quý vị không trả tiền nợ tín dụng trong hóa đơn, tiền trong trương mục của quý vị có thể bị dùng để trả cho món nợ.
Đi hỏi nhiều chỗ để kiếm thẻ tín dụng bảo đảm tốt. Quý vị có thể so sánh các tin tức về tín dụng bảo đảm tại www.bankrate.com trên mạng lưới điện toán. Trước khi nộp đơn, phải biết chắc là nơi cấp thẻ sẽ gởi tin tức về trương mục tín dụng của quý vị tới văn phòng báo cáo tín dụng. Đi tìm một thẻ tín dụng bảo đảm với:
- Lệ phí hàng năm thấp.
- Không phải đóng lệ phí ngay để nộp đơn, để tiến hành hay để là hội viên.
- Có cho trương mục lời khi quý vị ký thác.
Nhiều công ty cấp thẻ tín dụng không bảo đảm cho người không có lý lịch tín dụng hay hạnh kiểm tín dụng bị xấu. Đây có thể là các lựa chọn tín dụng tốn kém vì nhiều nhà băng có:
- Tiền được cho mượn thấp.
- Lãi xuất cao.
- Phải trả ngay lệ phí nộp đơn, lệ phí tiến hành và dự trữ, thường được tính trong bản báo cáo trương mục đầu tiên của quý vị.
- Lệ phí hội viên hàng năm hay hàng tháng.
- Lệ phí mượn tiền tăng.
Các lựa chọn về dịch vụ thẻ tín dụng
Công ty cấp thẻ tín dụng cho quý vị có thể đưa ra các dịch vụ và sản phẩm với lệ phí đi kèm:
- Bảo hiểm tín dụng – một dịch vụ giúp quý vị trả nợ thẻ tín dụng bằng một số tiền tối thiểu trong thời gian ngắn nếu quý vị bị bệnh hay bị tàn tật.
- Dịch vụ kiểm soát tín dụng tính tiền để dòm chừng giùm bản báo cáo tín dụng của quý vị và cho quý vị biết về các sự thay đổi không tốt.
- Các tập san hay phiếu giảm sát.
Quyền lợi của quý vị
Luật Fair Credit Reporting Act là luật của chính phủ liên bang để kiểm soát văn phòng báo cáo tín dụng và ngăn cấm các tin tức không đúng hay không hiện hữu bị cho vào hồ sơ tín dụng.
Quý vị có quyền xin được một bản sao báo cáo hạnh kiểm tín dụng của mình hàng năm từ mỗi trong ba công ty báo cáo tín dụng (Xem phần "Làm sao tôi lấy được một bản báo cáo tín dụng?"). Khi quý vị nhận được bản báo cáo, kiểm tra kỹ càng tất cả các dữ kiện, bao gồm tất cả các số trương mục và hồ sơ trả nợ. Nên biết chắc các trương mục cũ mà quý vị đã đóng được liệt kê đàng hoàng với hàng chữ “đóng với sự đồng ý của người tiêu thụ” tức “closed at the consumer’s request.”
Quý vị có quyền sửa lại các lỗi lầm trong bản báo cáo tín dụng của quý vị. Trong bản báo cáo tín dụng của quý vị có đính kèm một mẫu thơ giải thích cần phải làm gì tranh cãi về các tin tức không đúng.
Sau khi quý vị bắt đầu với tiến trình tranh cãi, văn phòng tín dụng phải kiểm tra lại với nguồn cung cấp tin tức và gởi cho quý vị một bản báo cáo mới. Văn phòng phải hồi đáp lại sự tranh cãi của quý vị trong thời gian ngắn. Trong đa số trường hợp, quý vị phải nhận được sự hồi đáp trong vòng 30 tới 45 ngày.
Nếu như sau khi nhận được sự hồi đáp từ văn phòng, quý vị không đồng ý với sự hồi đáp này, quý vị có thể viết thêm một thơ biện giải từ phía quý vị trong vòng 100 chữ tới văn phòng báo cáo tín dụng để đính kèm vào hồ sơ tín dụng để trình bày trên khía cạnh của mình.
Luật cũng quản lý thời hạn các chi tiết được lưu giữ trong hồ sơ tín dụng của quý vị. Những công khoản đã trả dứt vẫn được ghi lại trong hồ sơ. Nếu quý vị cáng đáng trả nợ tín dụng tốt, các chi tiết đó sẽ nằm trong báo cáo tín dụng trong 10 năm sau khi đã trả dứt hay đóng công khoản. Các chi tiết xấu, như việc trả trễ, sẽ nằm trong hồ sơ quý vị đến 7 năm, và chi tiết phá sản có thể nằm trong hồ sơ đến 10 năm.
Khiếu nại ở đâu
Để khiếu nại về văn phòng báo cáo tín dụng, các tiệm bán hàng hay các ngân hàng không được chính phủ liên bang bảo hiểm, viết cho Trung Tâm Consumer Response Center, Federal Trade Commission (FTC), Washington, DC 20580. Quý vị cũng có thể điền đơn khiếu nại trên mạng lưới điện toán FTC (www.ftc.gov).
Để khiếu nại về chủ nợ hay công ty cấp thẻ tín dụng, gọi cho công ty đó và hỏi tên và địa chỉ của văn phòng điều hành của công ty này. Gởi thơ khiếu nại của quý vị tới đó, và gởi một bản tới bộ Tư Pháp (Attorney General) ở tiểu bang của quý vị.
Mạo nhận thẻ tín dụng (credit card fraud) có thể xảy ra khi người tiêu thụ đưa số thẻ tín dụng của mình cho người không quen biết, khi thẻ tín dụng bị thất lạc hay mất trộm, khi thư bị chuyển đi nơi khác thay vì đến người nhận và bị người gian lấy cắp, hay khi người làm công của một cơ sở kinh doanh sao lại thẻ tín dụng hay số tín dụng của khách hàng. Sau đó,
Tiêu dùng tín dụng trái phép từ thẻ tín dụng của nạn nhân bị gian lận.
Thẻ bị làm giả mạo với số thẻ tín dụng của nạn nhân bị mạo nhận.
Trộm danh tính (identity theft) là việc sử dụng trái phép các chi tiết cá nhân của một người nào đó – như số an sinh xã hội hay ngày sinh – để gian lận tiền.
Kẻ trộm danh tính có thể gây ra tai hại và rắc rối cho nạn nhân bị gian lận bằng cách dùng tên và các chi tiết cá nhân khác của người đó để làm việc gian tà, như mở trương mục thẻ tín dụng mới và vào được các trương mục tín dụng và trương mục trong nhà băng đã có sẵn.
Cho dù nạn nhân của sự trộm danh tính không bị buộc chịu trách nhiệm cho sự mạo nhận, nhưng người bị mạo nhận cũng phải tốn rất nhiều công sức để chứng minh sự mạo nhận và giải quyết sự rắc rối về tài chánh do việc mạo nhận gây ra.
Cào lén (skimming) là sao lại trái phép thẻ tín dụng hay thẻ ngân hàng bằng một dụng cụ đọc và sao lại dữ kiện từ thẻ gốc.
Các nhân viên bất lương làm trong các cơ sở thương mại dùng các máy nhỏ được gọi là “skimmers” để đọc số và các dữ kiện khác từ các thẻ tín dụng và bán lại cho các kẻ gian tà.
Kẻ gian dùng các dữ kiện để làm các thẻ giả hay để mua hàng qua điện thoại hay qua mạng điện toán.
Câu móc (phishing) là việc gửi rất nhiều thư điện toán giả tạo đến người tiêu thụ, giả vờ như các thơ nhắn đó là từ ngân hàng của người nhận, nhằm dụ nạn nhân tiết lộ chi tiết cá nhân, như số trương mục ngân hàng.
Câu móc trở thành một thủ đoạn phố biến của kẻ gian đểthành công trong việc trộm cắp chi tiết cá nhân qua thư điện toán của nhiều người. Tội ác thành công vì các thư điện toán đó trông rất hợp pháp, với nhãn hiệu và địa chỉ mạng lưới điện toán, hay URL, giống như thật của ngân hàng.
Khi người có trương mục ngân hàng hồi đáp các thư điện toán, họ được chuyển đến một trang điện toán giả và được mời đánh vào số trương mục, mật mã và các chi tiết trương mục cá nhân hay chi tiết tín dụng. Sau đó, chỉ trong vài giờ, kẻ gian sẽ rút hết ngân quỹ của nạn nhân bằng cách dùng mật mã để uỷ thác ngân quỹ sang các ngân quỹ khác của họ.
Ngân hàng không bao giờ hỏi các chi tiết cá nhân qua cách này. Ðừng hồi đáp các thư điện toán hay điện thoại hỏi quý vị số thẻ tín dụng, số an sinh xã hội hay tên thật của mẹ quý vị.
Cho dù đó là một yêu cầu chính đáng, các ngân hàng cũng yêu cầu quý vị đừng bao giờ gửi các chi tiết trương mục qua thư điện toán, vì các thư đó không được an toàn và các chi tiết đó có thể bị kẻ gian xem được. Thay vào đó, hãy ghé đến ngân hàng, dùng các trang điện toán an toàn của ngân hàng, gọi qua điện thoại hay viết thư khi quý vị muốn giải quyết một tranh chấp với một doanh thương hay ngân hàng của quý vị.
Các số an toàn (security codes) là 3 hay 4 số nằm mặt sau của thẻ tín dụng được dùng bởi vài doanh thương để minh xác thẻ tín dụng là của quý vị khi quý vị mua hàng qua điện thoại hay qua mạng lưới điện toán.
Số thẻ nằm phía trên góc phải của thẻ Visa và Mastercard, hay nằm mặt sau thẻ, theo sau các số thẻ được in, gần nơi quý vị ký tên trên thẻ tín dụng.
Nếu số thẻ tín dụng của quý vị và ngày thẻ hết hạn bị ăn cắp, nhưng quý vị vẫn còn giữ thẻ, kẻ trộm không thể có được số an toàn mà nhiều doanh thương đòi hỏi khi mua hàng qua mạng điện toán.
Thẻ Tín Dụng Mới
Ðể bảo vệ sự an toàn, hầu hết các công ty cấp thẻ tín dụng hiện nay yêu cầu quý vị gọi điện thoại từ nhà để hiệu lực hoá thẻ tín dụng mới trước khi quý vị sử dụng thẻ.
Ký tên vào mặt sau thẻ với bút mực đen không phai ngay khi nhận được thẻ.
Vài người đề nghị quý vị viết “hỏi thẻ căn cước” (ask for ID) trên chỗ ký tên. Ðây không phải là ý kiến tốt. Nên nghĩ đến việc ký tên vào thẻ thay vì ghi “ hỏi thẻ căn cước.” Nhiều công ty cấp thẻ tín dụng cố vấn các nhà buôn đừng bán hàng nếu thẻ tín dụng không được ký tên.
Nên ghi tất cả số trương mục và địa chỉ liên lạc của công ty và giữ hồ sơ ở nơi an toàn, kín đáo.
Giữ bản sao biên lai và biên nhận từ máy rút tiền tự động ATM, để quý vị có thể dò lại với các hóa đơn tính tiền hàng tháng.
Bảo Vệ Bóp Hay Ví Của Quý Vị
Ðể ý đến đồ vật cầm theo.
Ðừng bao giờ mang theo tất cả thẻ tín dụng –chỉ mang một hay hai thẻ quý vị nghĩ là cần đến.
Cất thẻ tín dụng ở chỗ khác với bóp, giữ riêng rẽ trong một hộp đựng thẻ tín dụng, hay trong một ngăn khác trong ví.
Nếu bóp hay ví bị trộm, khai báo ngay đến các công ty tín dụng.
Tránh Thư Từ Gian Lận
Thông báo cho sở bưu điện biết ngay nếu quý vị thay đổi địa chỉ.
Giữ hộp thư cho an toàn và luôn luôn khóa lại cho chắc ăn. Ðừng bao giờ để thư trả các hóa đơn hàng tháng trong hộp thư không khoá hay tại hành lang chung cư.
Ðiện thoại thông báo cho các công ty tín dụng và ngân hàng khi quý vị thay đổi địa chỉ.
Luôn luôn ghi địa chỉ hồi đáp của quý vị trên bao thư.
Xé vụn các thư mời mọc cho thẻ tín dụng mà quý vị không cần đến trước khi vứt bỏ.
Biết rõ các ngày hóa đơn tín dụng và các hóa đơn khác sẽ được gửi về, và điện thoại cho các công ty đó nếu quý vị không nhận được các thư của họ.
An Toàn Trên Mạng Lưới Điện Toán
Nếu quý vị sử dụng các dịch vụ ngân hàng trên mạng lưới điện toán, đừng dùng dịch vụ “tự động ghi danh” (automatic sign on) của ngân hàng hay của thẻ tín dụng.
Vài mạng lưới mời mọc “dùng miễn phí” (free access) nếu quý vị cung cấp số thẻ tín dụng của quý vị. Tránh xa các mạng đó – rất có thể thẻ tín dụng của quý vị sẽ bị tính tiền bởi công ty mà quý vị cho số thẻ của mình, và có thể bởi các công ty mà quý vị chưa từng biết đến.
Bảo Vệ Chi Tiết Cá Nhân Của Mình
Ðừng bao giờ viết mã số danh tính cá nhân (personal identication number, PIN) – nhớ thuộc lòng số đó.
Ðừng bao giờ đưa số PIN cho người khác.
Ðừng viết số PIN trên thẻ của quý vị.
Ðừng viết số thẻ tín dụng trên bưu thiếp hay bên ngoài bao thư quý vị sẽ gửi đi.
Ðừng giữ số PIN cùng nơi cất giữ thẻ tín dụng hay thẻ rút tiền tự động ATM.
Ðừng bao giờ cho biết số thẻ tín dụng hay các chi tiết cá nhân khác qua điện thoại, trừ khi quý vị có thể tin được người quý vị nói chuyện qua điện thoại là từ một ngân hàng hay một doanh thương đứng đắn.
Ðừng cho người nào khác mượn thẻ tín dụng của quý vị, vì quý vị sẽ phải chịu trách nhiệm cho tất cả chi tiêu từ thẻ. Quý vị sẽ không thể được bảo vệ cho các sự chi tiêu trái phép nếu các chi tiêu đó từ người quý vị biết và tự nguyện đưa thẻ, bao gồm gia đình và bè bạn.
Ðừng đưa số thẻ cho bất cứ ai điện thoại đến cho quý vị hay gửi thư điện toán.
Sử Dụng Thẻ Của Quý Vị
Ðể ý cẩn thận nhân viên các cửa hiệu và quán ăn dùng thẻ tín dụng của quý vị như thế nào để biết chắc rằng họ không sao chép hay “cà lén” thẻ tín dụng của quý vị. Các dụng cụ dùng để cà số thẻ tín dụng có khi được ngụy trang trông giống như các máy điện thoại di động.
Sau khi quý vị mua hàng và thẻ được trả lại, hãy xem kỹ thẻ đó có đúng thẻ tín dụng của quý vị.
Nếu quý vị sắp đi du lịch và định dùng thẻ tín dụng khi xa nhà, nên báo trước cho công ty tín dụng. Việc này sẽ tránh trương mục tín dụng của quý vị bị cảnh báo và bị chặn vì nghi là có thể có sự gian lận xảy ra cũng như tránh bất cứ sự phiền phức nào quý vị có thể phải chịu nếu công ty cấùp thẻ ngưng không cho quý vị sử dụng trương mục tính dụng chỉ vì quý vị dùng nó ở nơi xa lạ.
Nếu quý vị định mua một món hàng nhiều tiền, nên báo cho công ty tín dụng biết để thẻ của quý vị không bị cảnh báo có dấu hiệu mạo nhận xảy ra. Thí dụ, nếu quý vị sửa sang nhà cửa của mình và định mua đồ đạc, vật dụng cố định hay máy tiện dụng trong nhà, nên báo cho công ty tín dụng biết trước.
Công Ty Tín Dụng Của Quý Vị
Người tiêu thụ không phải chịu trách nhiệm cho những tiêu dùng tín dụng trái phép (nếu người đó hành động có trách nhiệm và thông báo khi thẻ tín dụng bị thất lạc hay mất cắp), nhưng các công ty tín dụng khai báo sự thất thoát gần 50 tỷ mỹ kim hàng năm vì nạn gian lận tín dụng.
Hầu hết các công ty tín dụng đều thiết lập kỹ thuật để giúp nhận biết các hành vi mạo nhận và sẽ hành xử nhanh chóng để ngăn chận việc sử dụng trái phép một khi họ nhận ra điều đó.
Công ty tín dụng sẽ liên lạc với quý vị khi họ thấy có một chi tiêu lớn, hay khi thẻ được dùng tại một thành phố hay tại một nước xa nhà của quý vị. Thỉnh thoảng, thẻ tín dụng của quý vị có thể bị chặn hay không được dùng cho đến khi quý vị gọi đến công ty tín dụng. Việc này xảy ra để bảo vệ cho quý vị và công ty tín dụng.
Nên nhớ cập nhật hồ sơ của quý vị với công ty tín dụng khi quý vị đổi địa chỉ. Nhiều doanh thương kiểm chứng địa chỉ và số bưu chính (ZIP) để so sánh với hồ sơ của ngân hàng.
Ðể tránh bất cứ sự phiền phức nào, nên liên lạc với công ty tín dụng nếu quý vị định đi xa hay mua hàng nhiều tiền..
Hóa Đơn Tính Tiền Của Quý Vị
Kiểm tra bản tường trình chi tiêu tín dụng cho kỹ khi hóa đơn về đến.
Nếu quý vị có mạng lưới điện toán, nên nghĩ đến việc dùng thẻ tín dụng cấp bởi ngân hàng nào cho phép quý vị vào trương mục của mình qua mạng điện toán. Quý vị có thể vào trương mục của mình qua mạng để theo dõi các chi tiêu trái phép trong khoảng thời gian trước khi nhận được hóa đơn hàng tháng.
Báo cáo ngay cho công ty tín dụng của quý vị các chi tiêu hồ nghi.
Nếu một trong các hóa đơn tính tiền tín dụng của quý vị gửi đến trễ, nên liên lạc ngay với công ty tín dụng.
Một hóa đơn bị thất lạc có thể là dấu hiệu cho thấy hóa đơn của quý vị bị trộm. Hãy gọi đến công ty tín dụng của quý vịï nếu quý vị không nhận được hóa đơn như thường lệ. (Quý vị có trách nhiệm phải trả tiền cho dù quý vị không nhận được hóa đơn.)
Cất giữ các hóa đơn và biên nhận cũ ở nơi an toàn và cho vào máy cắt vụn hay xé nhỏ trước khi vứt bỏ.
Khai Báo Gian Lận Tín Dụng
Luật Hoá Ðơn Tín Dụng Công Bằng (Fair Credit Billing Act) là luật liên bang cho quý vị quyền giải quyết các lỗi lầm trong hóa đơn tín dụng, kể cả các chi tiêu trái phép.
Khi quý vị mua hàng hay sử dụng các dịch vụ bằng thẻ tín dụng và có điều gì sai trái xảy ra trong việc mua bán đó, quý vị có quyền tranh cãi về chi tiêu này và yêu cầu sự trả lại (chargeback) là sự hoàn trả từ công ty tín dụng.
Ðể tranh cãi các chi tiêu trong hóa đơn, hãy liên lạc đến công ty tín dụng trong vòng 60 ngày tính từ ngày ghi trên hóa đơn nếu không quý vị sẽ mất quyền tranh cãi.
Quý vị không thể tranh cãi khoản chi tiêu chưa ghi vào trương mục của quý vị, nhưng đối với trương mục qua mạng điện toán, quý vị có thể xem xét các chi tiêu đã ghi vào trương mục hằng ngày và chủ động trong trương mục tín dụng của mình hơn.
Luôn luôn tranh cãi các chi tiêu qua thư từ. Quý vị có thể gọi đến công ty tín dụng và sau đó bằng thư viết. Trong một vài trường hợp, công ty tín dụng sẽ gửi đến quý vị một mẫu đơn để điền vào việc quý vị muốn tranh cãi. Ghi xuống rõ ràng về món hàng muốn tranh cãi – bao gồm tên doanh thương, ngày mua, giá tiền món hàng và ngày phải trả tiền món hàng được ghi trên hoá đơn. Trình bày lý do tranh cãi trong vài hàng. Nên nhớ gửi thư và đơn tranh cãi, nếu được yêu cầu, gởi đến đúng địa chỉ cho việc tranh cãi hoá đơn.
Ðừng gửi thư tranh cãi kèm theo tiền trả hóa đơn hàng tháng.
Khi Gặp Sự Mạo Nhận
Ðiện thoại đến công ty tín dụng ngay nếu thẻ tín dụng của quý vị bị thất lạc hay bị trộm.
Sau khi gọi điện thoại, việc kế đến là viết thư đến công ty tín dụng. Thư cần ghi số thẻ tín dụng, ngày thẻ bị mất, và ngày quý vị khai báo.
Một khi quý vị khai báo thẻ bị mất, quý vị không phải chịu trách nhiệm cho bất cứ sự tiêu xài nào trái phép.
Cho dù quý vị khai báo trễ, hay quý vị không biết đến những tiêu xài trái phép cho đến khi nhận được hóa đơn hàng tháng, theo luật liên bang, trách nhiệm phải trả của quý vị chỉ hạn chế trong 50 mỹ kim cho mỗi thẻ. Tuy nhiên, quý vị có thể bị mất sự bảo vệ của luật pháp nếu quý vị lơ đễnh không khai báo bị mất thẻ hay về các chi tiêu trái phép một cách nhanh chóng.
Khi khai báo sự mạo nhận thẻ tín dụng, quý vị sẽ được gửi một bản khai để quý vị điền vào, ký tên, và gửi trả lại.
Gửi bản khai bị mạo nhận ngay.
(nguồn: consumer - action)
CSPA: LUẬT BẢO VỆ CON TRẺ
CSPA là gì?
CSPA viết tắt của Child Status Protection Act, Đạo Luật Bảo
Vệ Tuổi Con Trẻ.
CSPA: LUẬT BẢO VỆ
CON TRẺ
Sau đây là bài viết của luật sư Darren Nguyễn Ngọc Chương về bảo lãnh di trú theo luật CSPA đăng trên Trang Web Người Việt Online.
Ðạo luật Child Status Protection Act (CSPA) được ban hành vào ngày 6 Tháng Tám năm 2002, nhưng đến nay Sở Di Trú Hoa Kỳ vẫn chưa lập quy định về việc thi hành đạo luật. Ðạo luật này thay đổi cách cứu xét những người nào được coi là con độc thân, dưới 21 tuổi trong những trường hợp cấp chiếu khán bởi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và trong những trường hợp thay đổi tình trạng di trú bởi Sở Di Trú Hoa Kỳ. Tuy rằng đạo luật này có hiệu lực từ ngày ban hành, nhưng đến nay Sở Di Trú Hoa Kỳ chưa lập quy định về việc thi hành đạo luật. Vì lý do đó những sự trình bày sau đây dựa vào những giác thư và ý kiến của Sở Di Trú, và ngôn ngữ pháp lý của đạo luật CSPA. Ðạo luật này được phân ra làm 8 điều khoản và tôi sẽ trình bày điều khoản số 2 tới điều khoản số 6.
Ðạo luật này có hiệu lực từ ngày ban hành (tức là ngày 6 Tháng Tám năm 2002) và được áp dụng vào những hồ sơ nào có những người con quá 21 tuổi vào ngày 6 Tháng Tám năm 2002 hoặc sau ngày đó. Nếu những người con đó quá 21 tuổi trước ngày 6 Tháng Tám năm 2002, có thể được hưởng quyền lợi của đạo luật này nếu:
1. Những đơn bảo lãnh (đơn I-130) được chấp thuận mà đơn xin chiếu khán hoặc đơn xin thay đổi tình trạng di trú chưa được quyết định.
2. Những đơn bảo lãnh (đơn I-130) đang chờ đợi sự quyết định trước khi ngày hoặc sau khi ngày đạo luật được ban hành.
3. Những đơn đang chờ đợi sự quyết định của Bộ An Ninh Nội Chính (tức là Sở Di Trú) hoặc Bộ Ngoại Giao (tức là Lãnh Sự Hoa Kỳ).
Nhưng trước khi trình bày những điều khoản đó tôi xin sơ lượt qua những diện bảo lãnh thân nhân. Diện bảo lãnh theo diện thân nhân gồm có 2 loại. Loại thứ nhất là Immediate Relative và loại thứ hai là Family Based Preference.
Diện Immediate Relative là diện bảo lãnh cho vợ, chồng, con độc thân dưới 21 tuổi (con nuôi và con mồ côi cũng được lọt vào diện này), cha hoặc mẹ của công dân Hoa Kỳ, và diện này là diện bảo lãnh thân nhân mau nhất so với những diện bảo lãnh thân nhân khác.
Diện Family Based Preference được chia ra làm 5 Preferences (tức là 5 loại ưu tiên). Ưu tiên 1 được dành cho những người con trên 21 tuổi chưa có gia đình của công dân Hoa Kỳ. Ưu tiên 2A được dành cho vợ, chồng, hoặc con cái dưới 21 tuổi của thường trú nhân. Ưu tiên 2B được dành cho những người con trên 21 tuổi chưa có gia đình của thường trú nhân. Ưu tiên 3 được dành cho những người con đã có gia đình của công dân Hoa Kỳ. Ưu tiên 4 được dành cho anh, chị hoặc em của công dân Hoa Kỳ.
Ðiều khoản số 2
Trước khi đề cập tới điều khoản 2 của đạo luật Child Status Protection Act (CSPA), chúng tôi xin nhắc lại, trước kia, khi chưa có luật nới rộng này thì nếu cha mẹ là công dân Hoa Kỳ bảo lãnh con dưới 21 tuổi, thì người con đó phải dưới 21 tuổi kể từ ngày làm đơn bảo lãnh cho tới khi nhập cảnh Hoa Kỳ vẫn không được quá 21 tuổi. Nếu quá 21 tuổi thì không được hưởng ưu tiên của diện Immediate Relative. Nay điều khoản 2 của đạo luật Child Status Protection Act (CSPA) được nới rộng nhằm giúp cho những hồ sơ nào trong diện bảo lãnh con dưới 21 tuổi (cha mẹ là công dân Hoa Kỳ) được thỏa mãn hơn, nghĩa là chỉ cần người con dưới 21 tuổi lúc đơn I-130 được nhận bởi Sở Di Trú Hoa Kỳ là được rồi và sau đó khi có visa, hoặc nhập cảnh Hoa Kỳ dù con có trên 21 tuổi vẩn được đến Hoa Kỳ.
Tiếp đó điều khoản 2 sửa đổi luật di trú để những người con của thường trú nhân được lọt vào diện Immediate Relative sau khi người bảo lãnh trở thành công dân Hoa Kỳ. Ngày của người bảo lãnh trở thành công dân Hoa Kỳ sẽ là ngày Sở Di Trú dùng để xác định người được bảo lãnh sẽ lọt vào diện Immediate Relative hay diện ưu tiên. Ðiển hình là người cha hoặc mẹ bảo lãnh cho người con khi người con đó 17 tuổi và người bảo lãnh trở thành công dân Hoa Kỳ khi người con 20 tuổi, người con đó sẽ được lọt vào diện Immediate Relative dù là chiếu khán được cấp hoặc nhập cảnh Hoa Kỳ sau khi người con đó quá 21 tuổi hoặc nộp đơn thay đổi tình trạng di trú sau khi người con đó quá 21 tuổi.
Và sau cùng, dưới điều khoản 2, những người con dưới 21 tuổi đã có gia đình của công dân Hoa Kỳ được quyền chuyển sang diện Immediate Relative khi người con đó ly dị trước khi 21 tuổi. Ngày ly dị sẽ là ngày Sở Di Trú dùng để xác định người được bảo lãnh sẽ lọt vào diện Immediate Relative hay diện ưu tiên. Ðiển hình là người công dân Hoa Kỳ nộp đơn bảo lãnh cho người con 18 tuổi đã có gia đình. Sau khi đơn bảo lãnh đã nộp, người con đó ly dị. Người con sẽ được lọt vào diện Immediate Relative, nếu ly dị trước khi 21 tuổi, dù là chiếu khán được cấp hoặc nhập cảnh Hoa Kỳ sau khi người con đó quá 21 tuổi hoặc nộp đơn thay đổi tình trạng di trú sau khi người con đó quá 21 tuổi.
Ðiều khoản số 3
Ðiều khoản 3 của Child Status Protection Act (CSPA) được áp dụng để ngăn ngừa sự quá 21 tuổi của những con của thường trú nhân, và con của người được bảo lãnh (trong những diện như là ưu tiên 3, ưu tiên 4 v.v...) Ðiều khoản này khác với điều khoản 2 là Sở Di Trú sẽ không dựa vào ngày đơn bảo lãnh nộp để xác định rằng một người trên 21 tuổi được coi như là con dưới 21 tuổi để được hưởng quyền lợi di trú. Dưới điều khoản này, tuổi của những người con khi ngày ưu tiên (priority date) tới hạn, trừ đi thời gian từ ngày đơn bảo lãnh nộp tới ngày đơn bảo lãnh được chấp thuận, sẽ là ngày Sở Di Trú dùng để xác định rằng là những người con đó vẫn được coi là dưới 21 tuổi, nếu những người con đó nộp đơn xin chiếu khán hoặc thay đổi tình trạng di trú trong vòng 1 năm khi ngày ưu tiên đã tới hạn.
Ðiển hình là người bảo lãnh nộp đơn bảo lãnh cho người anh (diện ưu tiên 4). Dưới diện ưu tiên, gia đình (tức là vợ hoặc chồng và những người con dưới 21 tuổi) của người được bảo lãnh sẽ được đứng chung một hồ sơ. Khi người em nộp đơn bảo lãnh cho người anh thì người anh có vợ và một người con đúng 9 tuổi. Khi ngày ưu tiên tới hạn, thì người con là 21 tuổi và 10 tháng. Thời gian từ ngày đơn bảo lãnh nộp tới ngày đơn bảo lãnh được chấp thuận là 12 tháng. Tuổi của người đó sẽ được thụt xuống 12 tháng. Người con sẽ được xác định là 20 tuổi và 8 tháng và người đó sẽ được tiếp tục xác định rằng là dưới 21 tuổi và sẽ được tiếp tục chung một hồ sơ với người cha.
Ðiển hình nữa là người bảo lãnh là thường trú nhân nộp đơn bảo lãnh cho người con. Khi đơn bảo lãnh nộp, người con đó độc thân và mới có 15 tuổi (diện ưu tiên 2A). Khi ngày ưu tiên tới hạn, thì người con đó là 21 tuổi và 10 tháng. Thời gian từ ngày đơn bảo lãnh nộp tới ngày đơn bảo lãnh được chấp thuận là 9 tháng. Tuổi của người đó sẽ được trừ đi 9 tháng. Người con sẽ được xác định là 21 tuổi và 1 tháng và người đó sẽ không được tiếp tục xác định rằng là dưới 21 tuổi và sẽ bị chuyển sang diện ưu tiên 2B (diện ưu tiên cho con độc thân trên 21 tuổi của thường trú nhân).
Ðiều khoản số 4 và điều khoản số 5
Ðiều khoản 4 và điều khoản 5 của đạo luật Child Status Protection Act (CSPA) cũng tương tự như nhau và được áp dụng cho những hồ sơ tỵ nạn. Nhưng hai điều khoản có một khác biệt là điều khoản 4 được áp dụng cho những hồ sơ tị nạn được nộp tại Hoa Kỳ và điều khoản 5 được áp dụng cho những hồ sơ tị nạn được nộp ngoài Hoa Kỳ. Hai điều khoản này được áp dụng khi người con độc thân muốn đoàn tụ hoặc đứng cùng đơn với cha hoặc mẹ mà đơn xin tị nạn của cha hoặc mẹ đã được chấp thuận. Người con đó dưới 21 tuổi khi cha hoặc mẹ nộp đơn xin tị nạn nhưng thời gian chờ đợi hồ sơ tị nạn được chấp thuận quá lâu, người con đó đã quá 21 tuổi, thì với đạo luật Child Status Protection Act (CSPA), nay người con đó sẻ được Sở Di Trú Hoa Kỳ xác định là con dưới 21 tuổi và sẽ được hưởng quyền lợi di trú.
Ðiều khoản số 6
Ðiều khoản 6 của đạo luật Child Status Protection Act (CSPA) qui định rằng hồ sơ bảo lãnh tự động chuyển diện ưu tiên 2B (tức là diện của những người con độc thân trên 21 tuổi của thường trú nhân) qua sang diện ưu tiên 1 (tức là diện của những người con độc thân trên 21 tuổi của công dân Hoa Kỳ), nhưng điều khoản 6 cũng qui định rằng những người con độc thân trên 21 tuổi được quyền yêu cầu hồ sơ bảo lãnh không chuyển từ ưu tiên 2B sang ưu tiên 1. Chắc quí bạn đọc cũng thắc mắc là tại sao điều khoản này cho phép người được bảo lãnh yêu cầu hồ sơ không chuyển từ ưu tiên thấp qua ưu tiên cao vì ai ai cũng muốn hồ sơ của họ được chuyển từ ưu tiên thấp sang ưu tiên cao. Nhưng quí bạn đọc nên hiểu rằng đạo luật này được áp dụng cho tất cả hồ sơ bảo lãnh theo diện thân nhân cho tất cả quốc gia trên thế giới. Sau đây là hai điển hình hầu giúp cho quí bạn đọc hiểu rõ về điều khoản này hơn.
- Ðiển hình thứ nhất là ngày ưu tiên (tức là priority date) priority date của diện ưu tiên 2B (tức là diện của những người con độc thân trên 21 tuổi của thường trú nhân) cho Tháng Giêng năm 2003 là ngày 22 Tháng Tư năm 1994 và ngày ưu tiên của diện ưu tiên 1 cho Tháng Giêng năm 2003 là ngày 1 Tháng Năm năm 1999. Nếu thường trú nhân bảo lãnh cho người con 22 tuổi, độc thân và là công dân Việt Nam, và sau khi nộp đơn bảo lãnh người thường trú nhân trở thành công dân Hoa Kỳ, diện ưu tiên của người con sẽ được tự động chuyển sang ưu tiên 1. Sự chuyển diện sẽ có lợi cho người con đó cho nên người con đó sẽ không chống đối sự chuyển diện đó.
- Ðiển hình thứ hai là ngày ưu tiên 2B cho công dân Phi Luật Tân cho Tháng Giêng năm 2003 là ngày 22 Tháng Tư năm 1994 và ngày ưu tiên 1 cho công dân Phi Luật Tân cho Tháng Giêng năm 2003 là ngày 1 Tháng Tư 1990. Nếu thường trú nhân bảo lãnh cho người con 22 tuổi, độc thân và là công dân Phi Luật Tân, và sau khi nộp đơn bảo lãnh người thường trú nhân trở thành công dân Hoa Kỳ, đương nhiên người con đó sẽ yêu cầu chống lại sự tự động chuyển đó vì ngày ưu tiên cho diện ưu tiên 2B sẽ tới sớm hơn diện ưu tiên 1. Trong trường hợp này thì người con sẽ tiếp tục được coi là diện ưu tiên 2B.
Sau đây là bài viết của luật sư Darren Nguyễn Ngọc Chương về bảo lãnh di trú theo luật CSPA đăng trên Trang Web Người Việt Online.
Ðạo luật Child Status Protection Act (CSPA) được ban hành vào ngày 6 Tháng Tám năm 2002, nhưng đến nay Sở Di Trú Hoa Kỳ vẫn chưa lập quy định về việc thi hành đạo luật. Ðạo luật này thay đổi cách cứu xét những người nào được coi là con độc thân, dưới 21 tuổi trong những trường hợp cấp chiếu khán bởi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và trong những trường hợp thay đổi tình trạng di trú bởi Sở Di Trú Hoa Kỳ. Tuy rằng đạo luật này có hiệu lực từ ngày ban hành, nhưng đến nay Sở Di Trú Hoa Kỳ chưa lập quy định về việc thi hành đạo luật. Vì lý do đó những sự trình bày sau đây dựa vào những giác thư và ý kiến của Sở Di Trú, và ngôn ngữ pháp lý của đạo luật CSPA. Ðạo luật này được phân ra làm 8 điều khoản và tôi sẽ trình bày điều khoản số 2 tới điều khoản số 6.
Ðạo luật này có hiệu lực từ ngày ban hành (tức là ngày 6 Tháng Tám năm 2002) và được áp dụng vào những hồ sơ nào có những người con quá 21 tuổi vào ngày 6 Tháng Tám năm 2002 hoặc sau ngày đó. Nếu những người con đó quá 21 tuổi trước ngày 6 Tháng Tám năm 2002, có thể được hưởng quyền lợi của đạo luật này nếu:
1. Những đơn bảo lãnh (đơn I-130) được chấp thuận mà đơn xin chiếu khán hoặc đơn xin thay đổi tình trạng di trú chưa được quyết định.
2. Những đơn bảo lãnh (đơn I-130) đang chờ đợi sự quyết định trước khi ngày hoặc sau khi ngày đạo luật được ban hành.
3. Những đơn đang chờ đợi sự quyết định của Bộ An Ninh Nội Chính (tức là Sở Di Trú) hoặc Bộ Ngoại Giao (tức là Lãnh Sự Hoa Kỳ).
Nhưng trước khi trình bày những điều khoản đó tôi xin sơ lượt qua những diện bảo lãnh thân nhân. Diện bảo lãnh theo diện thân nhân gồm có 2 loại. Loại thứ nhất là Immediate Relative và loại thứ hai là Family Based Preference.
Diện Immediate Relative là diện bảo lãnh cho vợ, chồng, con độc thân dưới 21 tuổi (con nuôi và con mồ côi cũng được lọt vào diện này), cha hoặc mẹ của công dân Hoa Kỳ, và diện này là diện bảo lãnh thân nhân mau nhất so với những diện bảo lãnh thân nhân khác.
Diện Family Based Preference được chia ra làm 5 Preferences (tức là 5 loại ưu tiên). Ưu tiên 1 được dành cho những người con trên 21 tuổi chưa có gia đình của công dân Hoa Kỳ. Ưu tiên 2A được dành cho vợ, chồng, hoặc con cái dưới 21 tuổi của thường trú nhân. Ưu tiên 2B được dành cho những người con trên 21 tuổi chưa có gia đình của thường trú nhân. Ưu tiên 3 được dành cho những người con đã có gia đình của công dân Hoa Kỳ. Ưu tiên 4 được dành cho anh, chị hoặc em của công dân Hoa Kỳ.
Ðiều khoản số 2
Trước khi đề cập tới điều khoản 2 của đạo luật Child Status Protection Act (CSPA), chúng tôi xin nhắc lại, trước kia, khi chưa có luật nới rộng này thì nếu cha mẹ là công dân Hoa Kỳ bảo lãnh con dưới 21 tuổi, thì người con đó phải dưới 21 tuổi kể từ ngày làm đơn bảo lãnh cho tới khi nhập cảnh Hoa Kỳ vẫn không được quá 21 tuổi. Nếu quá 21 tuổi thì không được hưởng ưu tiên của diện Immediate Relative. Nay điều khoản 2 của đạo luật Child Status Protection Act (CSPA) được nới rộng nhằm giúp cho những hồ sơ nào trong diện bảo lãnh con dưới 21 tuổi (cha mẹ là công dân Hoa Kỳ) được thỏa mãn hơn, nghĩa là chỉ cần người con dưới 21 tuổi lúc đơn I-130 được nhận bởi Sở Di Trú Hoa Kỳ là được rồi và sau đó khi có visa, hoặc nhập cảnh Hoa Kỳ dù con có trên 21 tuổi vẩn được đến Hoa Kỳ.
Tiếp đó điều khoản 2 sửa đổi luật di trú để những người con của thường trú nhân được lọt vào diện Immediate Relative sau khi người bảo lãnh trở thành công dân Hoa Kỳ. Ngày của người bảo lãnh trở thành công dân Hoa Kỳ sẽ là ngày Sở Di Trú dùng để xác định người được bảo lãnh sẽ lọt vào diện Immediate Relative hay diện ưu tiên. Ðiển hình là người cha hoặc mẹ bảo lãnh cho người con khi người con đó 17 tuổi và người bảo lãnh trở thành công dân Hoa Kỳ khi người con 20 tuổi, người con đó sẽ được lọt vào diện Immediate Relative dù là chiếu khán được cấp hoặc nhập cảnh Hoa Kỳ sau khi người con đó quá 21 tuổi hoặc nộp đơn thay đổi tình trạng di trú sau khi người con đó quá 21 tuổi.
Và sau cùng, dưới điều khoản 2, những người con dưới 21 tuổi đã có gia đình của công dân Hoa Kỳ được quyền chuyển sang diện Immediate Relative khi người con đó ly dị trước khi 21 tuổi. Ngày ly dị sẽ là ngày Sở Di Trú dùng để xác định người được bảo lãnh sẽ lọt vào diện Immediate Relative hay diện ưu tiên. Ðiển hình là người công dân Hoa Kỳ nộp đơn bảo lãnh cho người con 18 tuổi đã có gia đình. Sau khi đơn bảo lãnh đã nộp, người con đó ly dị. Người con sẽ được lọt vào diện Immediate Relative, nếu ly dị trước khi 21 tuổi, dù là chiếu khán được cấp hoặc nhập cảnh Hoa Kỳ sau khi người con đó quá 21 tuổi hoặc nộp đơn thay đổi tình trạng di trú sau khi người con đó quá 21 tuổi.
Ðiều khoản số 3
Ðiều khoản 3 của Child Status Protection Act (CSPA) được áp dụng để ngăn ngừa sự quá 21 tuổi của những con của thường trú nhân, và con của người được bảo lãnh (trong những diện như là ưu tiên 3, ưu tiên 4 v.v...) Ðiều khoản này khác với điều khoản 2 là Sở Di Trú sẽ không dựa vào ngày đơn bảo lãnh nộp để xác định rằng một người trên 21 tuổi được coi như là con dưới 21 tuổi để được hưởng quyền lợi di trú. Dưới điều khoản này, tuổi của những người con khi ngày ưu tiên (priority date) tới hạn, trừ đi thời gian từ ngày đơn bảo lãnh nộp tới ngày đơn bảo lãnh được chấp thuận, sẽ là ngày Sở Di Trú dùng để xác định rằng là những người con đó vẫn được coi là dưới 21 tuổi, nếu những người con đó nộp đơn xin chiếu khán hoặc thay đổi tình trạng di trú trong vòng 1 năm khi ngày ưu tiên đã tới hạn.
Ðiển hình là người bảo lãnh nộp đơn bảo lãnh cho người anh (diện ưu tiên 4). Dưới diện ưu tiên, gia đình (tức là vợ hoặc chồng và những người con dưới 21 tuổi) của người được bảo lãnh sẽ được đứng chung một hồ sơ. Khi người em nộp đơn bảo lãnh cho người anh thì người anh có vợ và một người con đúng 9 tuổi. Khi ngày ưu tiên tới hạn, thì người con là 21 tuổi và 10 tháng. Thời gian từ ngày đơn bảo lãnh nộp tới ngày đơn bảo lãnh được chấp thuận là 12 tháng. Tuổi của người đó sẽ được thụt xuống 12 tháng. Người con sẽ được xác định là 20 tuổi và 8 tháng và người đó sẽ được tiếp tục xác định rằng là dưới 21 tuổi và sẽ được tiếp tục chung một hồ sơ với người cha.
Ðiển hình nữa là người bảo lãnh là thường trú nhân nộp đơn bảo lãnh cho người con. Khi đơn bảo lãnh nộp, người con đó độc thân và mới có 15 tuổi (diện ưu tiên 2A). Khi ngày ưu tiên tới hạn, thì người con đó là 21 tuổi và 10 tháng. Thời gian từ ngày đơn bảo lãnh nộp tới ngày đơn bảo lãnh được chấp thuận là 9 tháng. Tuổi của người đó sẽ được trừ đi 9 tháng. Người con sẽ được xác định là 21 tuổi và 1 tháng và người đó sẽ không được tiếp tục xác định rằng là dưới 21 tuổi và sẽ bị chuyển sang diện ưu tiên 2B (diện ưu tiên cho con độc thân trên 21 tuổi của thường trú nhân).
Ðiều khoản số 4 và điều khoản số 5
Ðiều khoản 4 và điều khoản 5 của đạo luật Child Status Protection Act (CSPA) cũng tương tự như nhau và được áp dụng cho những hồ sơ tỵ nạn. Nhưng hai điều khoản có một khác biệt là điều khoản 4 được áp dụng cho những hồ sơ tị nạn được nộp tại Hoa Kỳ và điều khoản 5 được áp dụng cho những hồ sơ tị nạn được nộp ngoài Hoa Kỳ. Hai điều khoản này được áp dụng khi người con độc thân muốn đoàn tụ hoặc đứng cùng đơn với cha hoặc mẹ mà đơn xin tị nạn của cha hoặc mẹ đã được chấp thuận. Người con đó dưới 21 tuổi khi cha hoặc mẹ nộp đơn xin tị nạn nhưng thời gian chờ đợi hồ sơ tị nạn được chấp thuận quá lâu, người con đó đã quá 21 tuổi, thì với đạo luật Child Status Protection Act (CSPA), nay người con đó sẻ được Sở Di Trú Hoa Kỳ xác định là con dưới 21 tuổi và sẽ được hưởng quyền lợi di trú.
Ðiều khoản số 6
Ðiều khoản 6 của đạo luật Child Status Protection Act (CSPA) qui định rằng hồ sơ bảo lãnh tự động chuyển diện ưu tiên 2B (tức là diện của những người con độc thân trên 21 tuổi của thường trú nhân) qua sang diện ưu tiên 1 (tức là diện của những người con độc thân trên 21 tuổi của công dân Hoa Kỳ), nhưng điều khoản 6 cũng qui định rằng những người con độc thân trên 21 tuổi được quyền yêu cầu hồ sơ bảo lãnh không chuyển từ ưu tiên 2B sang ưu tiên 1. Chắc quí bạn đọc cũng thắc mắc là tại sao điều khoản này cho phép người được bảo lãnh yêu cầu hồ sơ không chuyển từ ưu tiên thấp qua ưu tiên cao vì ai ai cũng muốn hồ sơ của họ được chuyển từ ưu tiên thấp sang ưu tiên cao. Nhưng quí bạn đọc nên hiểu rằng đạo luật này được áp dụng cho tất cả hồ sơ bảo lãnh theo diện thân nhân cho tất cả quốc gia trên thế giới. Sau đây là hai điển hình hầu giúp cho quí bạn đọc hiểu rõ về điều khoản này hơn.
- Ðiển hình thứ nhất là ngày ưu tiên (tức là priority date) priority date của diện ưu tiên 2B (tức là diện của những người con độc thân trên 21 tuổi của thường trú nhân) cho Tháng Giêng năm 2003 là ngày 22 Tháng Tư năm 1994 và ngày ưu tiên của diện ưu tiên 1 cho Tháng Giêng năm 2003 là ngày 1 Tháng Năm năm 1999. Nếu thường trú nhân bảo lãnh cho người con 22 tuổi, độc thân và là công dân Việt Nam, và sau khi nộp đơn bảo lãnh người thường trú nhân trở thành công dân Hoa Kỳ, diện ưu tiên của người con sẽ được tự động chuyển sang ưu tiên 1. Sự chuyển diện sẽ có lợi cho người con đó cho nên người con đó sẽ không chống đối sự chuyển diện đó.
- Ðiển hình thứ hai là ngày ưu tiên 2B cho công dân Phi Luật Tân cho Tháng Giêng năm 2003 là ngày 22 Tháng Tư năm 1994 và ngày ưu tiên 1 cho công dân Phi Luật Tân cho Tháng Giêng năm 2003 là ngày 1 Tháng Tư 1990. Nếu thường trú nhân bảo lãnh cho người con 22 tuổi, độc thân và là công dân Phi Luật Tân, và sau khi nộp đơn bảo lãnh người thường trú nhân trở thành công dân Hoa Kỳ, đương nhiên người con đó sẽ yêu cầu chống lại sự tự động chuyển đó vì ngày ưu tiên cho diện ưu tiên 2B sẽ tới sớm hơn diện ưu tiên 1. Trong trường hợp này thì người con sẽ tiếp tục được coi là diện ưu tiên 2B.
CSPA: HƯỚNG DẪN MỚI
Ngày 6 tháng 5 năm 2008, Sở Nhập tịch và Di trú Hoa Kỳ (USCIS) đưa ra một chính sách mới cho những hồ sơ xét chiếu theo Đạo luật (CSPA). Chính sách mới này giúp ích cho một vài trẻ quá 21 tuổi trước khi Đạo luật CSPA hiệu lực ngày 6 tháng 8 2002. Tuy nhiên, sự giải thích của USCIS không đủ nhắm những trẻ đi kèm quá 21 tuổi trong lúc đang chờ visa.
Theo sự giải thích lúc trước của Đạo luật CSPA, USCIS chủ yếu giới hạn sự áp dụng những điều khoản của Đạo luật CSPA cho những trẻ quá 21 tuổi đúng hay sau ngày 6 tháng 8 2002. Nếu một trẻ quá 21 tuổi trước ngày 6 tháng 8 năm 2002, trẻ đó chỉ được hưởng Đạo luật CSPA nếu chứng minh được rằng mình đang có đơn bảo lãnh trì hoãn ngày 6 tháng 8 năm 2002 hay rằng đơn bảo lãnh đã được chấp thuận trước ngày 5 tháng 8 năm 2002, nhưng đơn xin thường trú đang chờ giải quyết ngày 6 tháng 8 năm 2002.
Hướng dẫn mới ngày 6 tháng 5 năm 2008 nói rõ rằng trẻ quá 21 tuổi trước ngày 6 tháng 8 năm 2002 có thể tìm hưởng Đạo luật CSPA mặc dù không có đơn xin thường trú trì hoãn ngày 6 tháng 8 năm 2002. Hướng dẫn này áp dụng với điều kiện là chưa có kết quả dứt khoát về đơn xin thường trú trước ngày 6 tháng 8 năm 2002.
Đối với con của công dân Mỹ, hướng dẫn mới này đảm bảo rằng trẻ dưới 21 tuổi ở thời điểm nộp đơn bảo lãnh (hay ở thời điểm cha mẹ nhập tịch hay ly hôn, nếu những biến cố đó xảy ra sau ngày nộp đơn bảo lãnh), trẻ sẽ tiếp tục được xem như dưới 21 tuổi theo Đạo luậr CSPA.. Tuổi đó sẽ được khóa lại bất chấp trẻ quá 21 tuổi trước hay sau ngày 6 tháng 8 năm 2002, bất chấp đơn bảo lãnh được quyết định trước ngày 6 tháng 8 năm 2002 và bất chấp thời gian trẻ làm đơn xin thường trú sau ngày chấp thuận đơn bảo lãnh, với điều kiện là chưa có quyết định cuối cùng về đơn xin thường trú trước ngày 6 tháng 8 năm 2002.
Tất cả những trẻ khác (kể cả con của thường trú nhân hay trẻ đi kèm trong diện bảo lãnh gia đình, việc làm hay Diversity Visas) sẽ được xem là “con” nhằm mục đích di dân, nếu đơn bảo lãnh cho họ nộp trước khi họ quá 21 tuổi và ngày ưu tiên đến lượt được giải quyết trước khi họ quá 21 tuổi tính theo tuổi CSPA.
Tuổi tính theo Đạo luật CSPA là tuổi của trẻ ở thời điểm visa đến lượt được giải quyết trừ thời gian đơn bảo lãnh trì hoãn. Giống như trường hợp con của công dân Mỹ, Đạo luật CSPA áp dụng mặc dù trẻ quá 21 tuổi trước ngày ban hành Đạo luật CSPA với điều kiện tuổi điều chỉnh theo Đạo luật CSPA dưới 21 và chưa có kết quả cuối cùng về đơn xin thường trú trước ngày 6 tháng 8 năm 2002.
Tuy nhiên, khác với con của công dân Mỹ, con của thường trú nhân và trẻ đi kèm phải nộp đơn xin thường trú trong vòng một năm kể từ lúc visa đến lượt được giải quyết để được hưởng Đạo luật CSPA.
Khi nhìn nhận rằng có những trẻ bị từ chối không được cho hưởng Đạo luật CSPA một cách oan uổng chiếu theo những chính sách lúc trước, USCIS chấp thuận hướng dẫn này để đảm bảo rằng những người đó có thể xin thường trú bây giờ. USCIS cho phép những người đó làm đơn xin mở lại hồ sơ (motion to reopen) bây giờ mà không cần phải trả lệ phí để xin thường trú chiếu theo Đạo luật CSPA nếu lúc trước họ bị từ chối đơn xin thường trú chỉ vì quá tuổi.. USCIS cũng cho phép những người đó nộp đơn xin hưởng Đạo luật CSPA nếu họ là người thân trực hệ (immediate relative) hay nếu visa của họ đến lượt được giải quyết đúng hay sau ngày 7 tháng 8 năm 2002 và họ đã không nộp đơn xin thường trú trong vòng một năm kể từ lúc visa đến lượt được giải quyết vì những chính sách lúc trước của USCIS không cho họ làm đơn xin thường trú.
Nhũng người nào có con ở trong trường hợp nêu trên nên liên lạc với luật sư để được giúp đỡ.
Ngày 6 tháng 5 năm 2008, Sở Nhập tịch và Di trú Hoa Kỳ (USCIS) đưa ra một chính sách mới cho những hồ sơ xét chiếu theo Đạo luật (CSPA). Chính sách mới này giúp ích cho một vài trẻ quá 21 tuổi trước khi Đạo luật CSPA hiệu lực ngày 6 tháng 8 2002. Tuy nhiên, sự giải thích của USCIS không đủ nhắm những trẻ đi kèm quá 21 tuổi trong lúc đang chờ visa.
Theo sự giải thích lúc trước của Đạo luật CSPA, USCIS chủ yếu giới hạn sự áp dụng những điều khoản của Đạo luật CSPA cho những trẻ quá 21 tuổi đúng hay sau ngày 6 tháng 8 2002. Nếu một trẻ quá 21 tuổi trước ngày 6 tháng 8 năm 2002, trẻ đó chỉ được hưởng Đạo luật CSPA nếu chứng minh được rằng mình đang có đơn bảo lãnh trì hoãn ngày 6 tháng 8 năm 2002 hay rằng đơn bảo lãnh đã được chấp thuận trước ngày 5 tháng 8 năm 2002, nhưng đơn xin thường trú đang chờ giải quyết ngày 6 tháng 8 năm 2002.
Hướng dẫn mới ngày 6 tháng 5 năm 2008 nói rõ rằng trẻ quá 21 tuổi trước ngày 6 tháng 8 năm 2002 có thể tìm hưởng Đạo luật CSPA mặc dù không có đơn xin thường trú trì hoãn ngày 6 tháng 8 năm 2002. Hướng dẫn này áp dụng với điều kiện là chưa có kết quả dứt khoát về đơn xin thường trú trước ngày 6 tháng 8 năm 2002.
Đối với con của công dân Mỹ, hướng dẫn mới này đảm bảo rằng trẻ dưới 21 tuổi ở thời điểm nộp đơn bảo lãnh (hay ở thời điểm cha mẹ nhập tịch hay ly hôn, nếu những biến cố đó xảy ra sau ngày nộp đơn bảo lãnh), trẻ sẽ tiếp tục được xem như dưới 21 tuổi theo Đạo luậr CSPA.. Tuổi đó sẽ được khóa lại bất chấp trẻ quá 21 tuổi trước hay sau ngày 6 tháng 8 năm 2002, bất chấp đơn bảo lãnh được quyết định trước ngày 6 tháng 8 năm 2002 và bất chấp thời gian trẻ làm đơn xin thường trú sau ngày chấp thuận đơn bảo lãnh, với điều kiện là chưa có quyết định cuối cùng về đơn xin thường trú trước ngày 6 tháng 8 năm 2002.
Tất cả những trẻ khác (kể cả con của thường trú nhân hay trẻ đi kèm trong diện bảo lãnh gia đình, việc làm hay Diversity Visas) sẽ được xem là “con” nhằm mục đích di dân, nếu đơn bảo lãnh cho họ nộp trước khi họ quá 21 tuổi và ngày ưu tiên đến lượt được giải quyết trước khi họ quá 21 tuổi tính theo tuổi CSPA.
Tuổi tính theo Đạo luật CSPA là tuổi của trẻ ở thời điểm visa đến lượt được giải quyết trừ thời gian đơn bảo lãnh trì hoãn. Giống như trường hợp con của công dân Mỹ, Đạo luật CSPA áp dụng mặc dù trẻ quá 21 tuổi trước ngày ban hành Đạo luật CSPA với điều kiện tuổi điều chỉnh theo Đạo luật CSPA dưới 21 và chưa có kết quả cuối cùng về đơn xin thường trú trước ngày 6 tháng 8 năm 2002.
Tuy nhiên, khác với con của công dân Mỹ, con của thường trú nhân và trẻ đi kèm phải nộp đơn xin thường trú trong vòng một năm kể từ lúc visa đến lượt được giải quyết để được hưởng Đạo luật CSPA.
Khi nhìn nhận rằng có những trẻ bị từ chối không được cho hưởng Đạo luật CSPA một cách oan uổng chiếu theo những chính sách lúc trước, USCIS chấp thuận hướng dẫn này để đảm bảo rằng những người đó có thể xin thường trú bây giờ. USCIS cho phép những người đó làm đơn xin mở lại hồ sơ (motion to reopen) bây giờ mà không cần phải trả lệ phí để xin thường trú chiếu theo Đạo luật CSPA nếu lúc trước họ bị từ chối đơn xin thường trú chỉ vì quá tuổi.. USCIS cũng cho phép những người đó nộp đơn xin hưởng Đạo luật CSPA nếu họ là người thân trực hệ (immediate relative) hay nếu visa của họ đến lượt được giải quyết đúng hay sau ngày 7 tháng 8 năm 2002 và họ đã không nộp đơn xin thường trú trong vòng một năm kể từ lúc visa đến lượt được giải quyết vì những chính sách lúc trước của USCIS không cho họ làm đơn xin thường trú.
Nhũng người nào có con ở trong trường hợp nêu trên nên liên lạc với luật sư để được giúp đỡ.
CSPA: CÁCH TÍNH TUỔI
Đạo luật CSPA bắt đầu có hiệu lực từ ngày 6 tháng 8, 2002 và
được áp dụng chỉ khi thỏa một trong những điều kiện sau:
1. Hồ sơ bảo lãnh thị thực nhập cư được chấp thuận ngay/sau ngày 6/8/2002, hoặc
2. Đương đơn bị quá tuổi ngay/sau ngày 6/8/2002, hoặc
3. Đương đơn đã bị quá tuổi trước ngày 6/8/2002 nhưng đã nộp đơn xin thị thực trước khi quá tuổi và bị từ chối theo điều khoản 221(g).
Thông tin cần thiết:
1. Ngày ưu tiên của hồ sơ (Priority date)
2. Ngày hồ sơ được USCIS chấp thuận (Approval date)
3. Ngày hồ sơ đến lượt giải quyết
4. Ngày sinh (của đứa trẻ)
Cách tính:
5. Thời gian hồ sơ bị trì hoãn: Lấy ngày chấp thuận trừ ngày ưu tiên (số 2 trừ số 1)
6. Tuổi khi được giải quyết: Lấy ngày hồ sơ đến lượt giải quyết trừ ngày sinh (số 4 trừ số 3)
7. Tuổi CSPA: Lấy số 6 trừ số 5
Nhận xét:
. Nếu tuổi CSPA đúng hoặc dưới 21 thì đủ điều kiện đi theo gia đình.
. Hồ sơ nào có thời gian chờ đợi càng lâu thì càng có lợi cho việc tính tuổi CSPA.
1. Hồ sơ bảo lãnh thị thực nhập cư được chấp thuận ngay/sau ngày 6/8/2002, hoặc
2. Đương đơn bị quá tuổi ngay/sau ngày 6/8/2002, hoặc
3. Đương đơn đã bị quá tuổi trước ngày 6/8/2002 nhưng đã nộp đơn xin thị thực trước khi quá tuổi và bị từ chối theo điều khoản 221(g).
Thông tin cần thiết:
1. Ngày ưu tiên của hồ sơ (Priority date)
2. Ngày hồ sơ được USCIS chấp thuận (Approval date)
3. Ngày hồ sơ đến lượt giải quyết
4. Ngày sinh (của đứa trẻ)
Cách tính:
5. Thời gian hồ sơ bị trì hoãn: Lấy ngày chấp thuận trừ ngày ưu tiên (số 2 trừ số 1)
6. Tuổi khi được giải quyết: Lấy ngày hồ sơ đến lượt giải quyết trừ ngày sinh (số 4 trừ số 3)
7. Tuổi CSPA: Lấy số 6 trừ số 5
Nhận xét:
. Nếu tuổi CSPA đúng hoặc dưới 21 thì đủ điều kiện đi theo gia đình.
. Hồ sơ nào có thời gian chờ đợi càng lâu thì càng có lợi cho việc tính tuổi CSPA.
Khiếu nại CSPA
- Nếu HS đã đến lượt cấp visa hoặc chỉ cách khoảng 1 tuần
chậm hơn so với lịch Visa Bulletin và HS lại đang nằm tại NVC thì NBL hoặc NĐBL
có thể gởi đơn khiếu nại CSPA tại NVC. Cơ hội NVC sẽ giải quyết và add tên trẻ
CSPA vào HS để đóng tiền visa và hoàn tất các thủ tục cần thiết tại NVC luôn.
Như vậy khi HS về đến LSQ, NĐBL sẽ không phải lo lắng về việc khiếu nại CSPA
nữa.
- Nếu HS chưa đến lượt cấp visa và ngày ưu tiên của HS còn xa hơn lịch visa Bulletin 1 tháng hoặc nhiều hơn thì không nên khiếu nại CSPA tại NVC, vì NVC sẽ không giải quyết. NBL và NĐBL nên hoàn tất các thủ tục cần thiết để HS hoàn tất. Sau khi HS được chuyển về LSQ và có giấy PV, lúc đó, NĐBL phải khiếu nại CSPA tại LSQ.
- Nếu HS chưa đến lượt cấp visa và ngày ưu tiên của HS còn xa hơn lịch visa Bulletin 1 tháng hoặc nhiều hơn thì không nên khiếu nại CSPA tại NVC, vì NVC sẽ không giải quyết. NBL và NĐBL nên hoàn tất các thủ tục cần thiết để HS hoàn tất. Sau khi HS được chuyển về LSQ và có giấy PV, lúc đó, NĐBL phải khiếu nại CSPA tại LSQ.
Cách tiến hành khiếu nại CSPA tại NVC
. Viết thư khiếu nại CSPA
. Copy giấy khai sanh của người con
. Copy giấy chấp thuận I-130 (mẫu I-797), nếu không có giâý này cũng không sao.
Email các giấy trên cho NVC.
. Copy giấy chấp thuận I-130 (mẫu I-797), nếu không có giâý này cũng không sao.
Email các giấy trên cho NVC.
Liên Lạc với LSQ Hoa Kỳ tại TPHCM
Hiện nay địa chỉ Email của LSQ đã không sử dụng nữa muốn
khiếu nại:
. CSPA
. Kết hôn
. Sinh thêm con
. Ly dị
. Chưa/không đi
. Qua đơì
. Các vấn đề khác
Bạn phải vào trang dưới đây để viết thư khiếu nại; Và phải viết bằng tiếng Anh:
+ Immigrant Visa Question - Thị thực di dân hoặc
+ Non-Immigrant Visa Question - Thị thực không di dân
. CSPA
. Kết hôn
. Sinh thêm con
. Ly dị
. Chưa/không đi
. Qua đơì
. Các vấn đề khác
Bạn phải vào trang dưới đây để viết thư khiếu nại; Và phải viết bằng tiếng Anh:
+ Immigrant Visa Question - Thị thực di dân hoặc
+ Non-Immigrant Visa Question - Thị thực không di dân
USA PATRIOT
Act Series No. 3 Help for Ageouts
* Trẻ đi kèm sẽ được trừ thêm 45 ngày tuổi nếu đơn bảo lãnh nộp ngay hoặc trước ngày 11/9/2001. Nói cách khác
* Đơn I-130 nộp sau ngày 11/9/2001 sẽ không được trừ 45 ngày tuổi
* Trẻ đi kèm sẽ được trừ thêm 45 ngày tuổi nếu đơn bảo lãnh nộp ngay hoặc trước ngày 11/9/2001. Nói cách khác
* Đơn I-130 nộp sau ngày 11/9/2001 sẽ không được trừ 45 ngày tuổi
Similarly, an applicant whose twenty-first birthday occurs
after September 2001 and who is the beneficiary of a petition or application
filed on or before September 11, 2001, will continue to qualify as a child for
45 days after the applicants twenty first birthday for the purpose of
adjudicating that repeat that petition or application. There is no sunset date
in the Act for this provision, however as the class of applicants who might
benefit from this provision of Section 424 is expected to be very limited, the
provision will sunset when these few applicants have been processed.
Thứ Năm, 10 tháng 5, 2012
Chuẩn Bị Giấy Tờ Khi Hồ Sơ Được Mở
Chuẩn bị trước (civil documents):
1. Làm hộ chiếu cho tất các thành viên đi cùng. Hộ chiếu phải còn hiệu lực ít nhất tám tháng sau khi được cấp visa.
2. Chuẩn bị các giấy tờ dân sự như khai sanh, hộ chiếu, CMND, đăng ký kết hôn, li dị (nếu có), hộ khẩu...
[Bộ 1] NGƯỜI ĐƯỢC BẢO LÃNH
Khi hồ sơ được mở:
1. Điền mẫu đơn DS-3032: nhớ ghi địa chỉ email của người bảo lãnh và người được bảo lãnh để NVC tiện liên lạc.
Gởi đến NVC bằng 2 cách: email và đường bưu điện.
2. Bản chính Phiếu Lý Lịch Tư Pháp địa phương: cho mỗi đương đơn từ 16 tuổi trở lên được cấp trong vòng một năm bởi Sở Tư Pháp tỉnh/thành phố nơi đương đơn cư trú hợp pháp. Liên hệ Sở Tư Pháp Tỉnh hoặc TP nơi đăng ký hộ khẩu thường trú để nộp đơn. Bạn sẽ được cấp 2 bản, chỉ nộp 1 bản, bản còn lại, cũng là bản chính, mang theo lúc phỏng vấn.
Chú ý: Trường hợp đương đơn có thời gian sống ở nước ngoài, trừ Hoa Kỳ, trên 6 tháng cần có thêm Bản chính Giấy chứng nhận do cảnh sát nước ngoài cấp. Liên hệ Đại Sứ Quán hoặc Lãnh Sự Quán của các nước mà đương đơn đã cư ngụ tại Hà Nội hoặc TPHCM để làm giấy này.
3. Điền mẫu đơn DS-230 cho tất cả các thành viên. Ký tên trên part-1, part-2 không ký tên.
4. Khai sanh phải là bản chính hoặc trích lục (National Visa Center không chấp nhận tờ Photocopy).
5. Hôn thú trích lục hoặc sao y bản chính.
6. Giấy ly hôn (nếu có).
7. Hồ sơ quân đội, giấy tiền án (nếu có).
8. Hộ chiếu. Photocopy trang đầu & trang có thông tin cá nhân trên tờ hộ chiếu (nên chứng thực).
9. 2 tấm hình 5x5cm (Chụp phông nền trắng, ghi số HCM, tên họ mặt sau tấm hình).
Chú ý: Nhớ ghi case number HCMxxxxxxxxxx trên góc phải của các giấy tờ.
Gởi toàn bộ civil documents [Bộ 1] (trừ DS-3032 vì đã gởi cho NVC trước đó) cho người bảo lãnh để, sau khi đóng tiền visa, người bảo lãnh in Document Cover Sheet (Barcode) 404$ đặt trước bộ DS-230 cùng với các giấy tờ cá nhân mỗi người.
[Bộ 2] NGƯỜI BẢO LÃNH Ở MỸ LÀM NỘP
Dù không có income hay lãnh tiền trợ cấp, người bảo lãnh chính bắt buộc phải điền I-864.
1. Đóng $88 lệ phí cho I-864, sau đó in barcode-88$ để trước bản chính: I-864, giấy khai thuế (IRS) Form 1040, 1040EZ kèm theo W-2 hoặc/và 1090. (Giấy khai thuế (IRS) Form 1040, 1040EZ kèm theo W-2 hoặc/và 1090 có thể thay tất cả các giấy này chỉ bằng 1 tờ Tax transcipt. Xin Tax Transcript Ở đây).
2. Giấy xác nhận có việc làm hoặc giấy phép hành nghề nêú tự làm chủ .
3. Photocopy giấy chứng nhận quốc tịch hoặc US passport.
4. Khai sanh.
5. Hôn thú (nếu có).
6. Ly dị (nếu có).
Nếu người bảo lãnh chính không có income hay lãnh tiền trợ cấp và không khai thuế thì phải viết thư giải thích. Thư Giải thích lý do không khai thuế
Nếu có người đồng bảo trợ thì người đồng bảo trợ nộp:
7. I-864A nếu cùng địa chỉ.
8. I-864 nếu khác địa chỉ.
9. Các loại giấy tờ về thuế như trên.
10. Photocopy giấy chứng nhận quốc tịch hoặc US passport hoặc copy 2 mặt của thẻ xanh.
Người bảo lãnh photocopy 1 bộ của [Bộ 2] trên, (I-864, cùng các loại giấy thuế, khai sanh...) gởi về để bạn mang theo lúc phỏng vấn.
Sau khi có giấy mời phỏng vấn tiến hành chích ngừa và khám sức khoẻ, nên đặt lịch hẹn trước.
Chú ý: Nếu người đồng bảo trợ có quan hệ ruột thịt với người bảo trợ chính thì nên nộp thêm giấy khai sinh của người đồng bảo trợ.
[Bộ 3] BẰNG CHỨNG
Bằng chứng góp phần rất quan trọng cho việc nhận giấy hồng, chấp nhận cấp Visa khi đi phỏng vấn. Chuẩn bị bằng chứng theo thứ tự thời gian giữa người bảo lãnh và người được bảo lãnh; người được bảo lãnh và các thành viên đi theo cùng đương đơn chính. Bộ này gồm hình ảnh, học bạ, bill điện thoại, giấy tờ khác...
I. Hình ảnh:
Chuẩn bị để riêng các hình ảnh chứng minh 2 mối quan hệ trên. Nên chọn lựa những hình chứng minh mối quan hệ gia đình, bao gồm hình cũ, hình mới, sắp xếp hình theo thứ tự qua các giai đoạn từ cũ đến mới.
Nếu thiếu hình cũ chụp chung với người bảo lãnh thì tìm hình khác còn lại chứng minh mối quan hệ gia đình rộng hơn của mọi người trong gia đình như cha-mẹ-con, anh-chị-em...
Hình có thể để trong Album mỏng hoặc dán trên giấy A4 để dễ đưa vào ô cửa hẹp lúc phỏng vấn. Bên dưới hình dán thêm ghi chú bằng tiếng Anh các hình quan trọng: Hình chụp năm nào, ở đâu, ai chụp chung,...
Người bảo lãnh (NBL) lớn tuổi cần phải có hình mới chụp, tay cầm tờ báo Mỹ mới nhất, thấy được ngày phát hành để nhân viên TLSQ biết NBL hiện vẫn còn sống (gởi về bằng file qua email).
Lưu ý: Đây là bằng chứng quan trọng nên không thể thiếu đối với NBL lớn tuổi & sẽ được nhân viên TLSQ yêu cầu lúc phỏng vấn.
II. Giấy tờ cũ có tên người bảo lãnh & được bảo lãnh như:
2. Sổ công giáo (nếu có).
3. Học bạ cũ (nếu có).
4. Các giấy tờ cũ khác còn giữ.
5. Bill điện thoại: Người nhà bên Mỹ in Bill điện thoại gởi về, dùng bút dạ quang tô màu số điện thoại nhà.
6. Thư từ cũ gởi về từ Mỹ còn bao thư có mộc bưu điện...
III. Bằng chứng mối quan hệ gia đình của đương đơn chính với các thành viên đi theo:
1. Học bạ của các con.
2. Hình ảnh gia đình.
3. Hộ khẩu.
4. Khai sanh.
5. Giấy kết hôn.
Khi phỏng vấn mang theo thư mời phỏng vấn, [Bộ 1,2 và 3] cùng mỗi thành viên cần chuẩn bị thêm các giấy tờ sau đây khi đi phỏng vấn. Con cái đi theo thì trừ ra hôn thú và hộ khẩu.
Các bản chính trong trường hợp họ cần:
1. 4 tấm hình 5x5 cm (mỗi người).
2. Hộ khẩu.
3. Chứng minh nhân dân (mỗi người).
4. Hộ chiếu.
5. DS–230 I, II (mỗi người).
6. Hôn thú.
7. Lý lịch tư pháp (bản chính).
8. Khai sinh (mỗi người).
9. Kết quả khám sức khoẻ của mỗi người (bao thư khám sức khoẻ phải còn niêm phong).
10. Giấy thuận tình cho con đi cùng nếu con dưới 18 tuổi và cha/mẹ còn ở lại Việt Nam.
11. Giấy cam kết độc thân cho tất cả đương đơn nữ từ 18 tuổi trở lên và nam từ 20 tuổi trở lên còn độc thân, hoặc đã ly dị, góa vợ, góa chồng.
12. Các giấy tờ liên quan quân đội, toà án trước đây (nếu có).
Chú ý:
1. Tất cả những giấy tờ không phải bằng tiếng Việt hay tiếng Anh phải được dịch sang tiếng Anh và công chứng.
2. Trường hợp HS phải khiếu nại CSPA tại LSQHK tại TPHCM thì:
- Người CSPA cần chuẩn bị DS-230 và civil documents như các thành viên đi theo người được bảo lãnh chính.
- I-864 của người bảo trợ nên có cả tên người CSPA (nếu chắc chắn đủ tuổi) copy I-864 gởi về cho người CSPA, như vậy sau khi khiếu nại tại LSQ không phải làm lại I-864. Trường hợp người bảo trợ không đề tên người CSPA thì sau khi khiếu nại CSPA thành công, người bảo trợ phải làm lại I-864 bản chính và gởi về VN cho gđ cầm đi phỏng vấn. Hoặc làm thêm I-864 cho người CSPA bản chính.
1. Làm hộ chiếu cho tất các thành viên đi cùng. Hộ chiếu phải còn hiệu lực ít nhất tám tháng sau khi được cấp visa.
2. Chuẩn bị các giấy tờ dân sự như khai sanh, hộ chiếu, CMND, đăng ký kết hôn, li dị (nếu có), hộ khẩu...
[Bộ 1] NGƯỜI ĐƯỢC BẢO LÃNH
Khi hồ sơ được mở:
1. Điền mẫu đơn DS-3032: nhớ ghi địa chỉ email của người bảo lãnh và người được bảo lãnh để NVC tiện liên lạc.
Gởi đến NVC bằng 2 cách: email và đường bưu điện.
2. Bản chính Phiếu Lý Lịch Tư Pháp địa phương: cho mỗi đương đơn từ 16 tuổi trở lên được cấp trong vòng một năm bởi Sở Tư Pháp tỉnh/thành phố nơi đương đơn cư trú hợp pháp. Liên hệ Sở Tư Pháp Tỉnh hoặc TP nơi đăng ký hộ khẩu thường trú để nộp đơn. Bạn sẽ được cấp 2 bản, chỉ nộp 1 bản, bản còn lại, cũng là bản chính, mang theo lúc phỏng vấn.
Chú ý: Trường hợp đương đơn có thời gian sống ở nước ngoài, trừ Hoa Kỳ, trên 6 tháng cần có thêm Bản chính Giấy chứng nhận do cảnh sát nước ngoài cấp. Liên hệ Đại Sứ Quán hoặc Lãnh Sự Quán của các nước mà đương đơn đã cư ngụ tại Hà Nội hoặc TPHCM để làm giấy này.
3. Điền mẫu đơn DS-230 cho tất cả các thành viên. Ký tên trên part-1, part-2 không ký tên.
4. Khai sanh phải là bản chính hoặc trích lục (National Visa Center không chấp nhận tờ Photocopy).
5. Hôn thú trích lục hoặc sao y bản chính.
6. Giấy ly hôn (nếu có).
7. Hồ sơ quân đội, giấy tiền án (nếu có).
8. Hộ chiếu. Photocopy trang đầu & trang có thông tin cá nhân trên tờ hộ chiếu (nên chứng thực).
9. 2 tấm hình 5x5cm (Chụp phông nền trắng, ghi số HCM, tên họ mặt sau tấm hình).
Chú ý: Nhớ ghi case number HCMxxxxxxxxxx trên góc phải của các giấy tờ.
Gởi toàn bộ civil documents [Bộ 1] (trừ DS-3032 vì đã gởi cho NVC trước đó) cho người bảo lãnh để, sau khi đóng tiền visa, người bảo lãnh in Document Cover Sheet (Barcode) 404$ đặt trước bộ DS-230 cùng với các giấy tờ cá nhân mỗi người.
[Bộ 2] NGƯỜI BẢO LÃNH Ở MỸ LÀM NỘP
Dù không có income hay lãnh tiền trợ cấp, người bảo lãnh chính bắt buộc phải điền I-864.
1. Đóng $88 lệ phí cho I-864, sau đó in barcode-88$ để trước bản chính: I-864, giấy khai thuế (IRS) Form 1040, 1040EZ kèm theo W-2 hoặc/và 1090. (Giấy khai thuế (IRS) Form 1040, 1040EZ kèm theo W-2 hoặc/và 1090 có thể thay tất cả các giấy này chỉ bằng 1 tờ Tax transcipt. Xin Tax Transcript Ở đây).
2. Giấy xác nhận có việc làm hoặc giấy phép hành nghề nêú tự làm chủ .
3. Photocopy giấy chứng nhận quốc tịch hoặc US passport.
4. Khai sanh.
5. Hôn thú (nếu có).
6. Ly dị (nếu có).
Nếu người bảo lãnh chính không có income hay lãnh tiền trợ cấp và không khai thuế thì phải viết thư giải thích. Thư Giải thích lý do không khai thuế
Nếu có người đồng bảo trợ thì người đồng bảo trợ nộp:
7. I-864A nếu cùng địa chỉ.
8. I-864 nếu khác địa chỉ.
9. Các loại giấy tờ về thuế như trên.
10. Photocopy giấy chứng nhận quốc tịch hoặc US passport hoặc copy 2 mặt của thẻ xanh.
Người bảo lãnh photocopy 1 bộ của [Bộ 2] trên, (I-864, cùng các loại giấy thuế, khai sanh...) gởi về để bạn mang theo lúc phỏng vấn.
Sau khi có giấy mời phỏng vấn tiến hành chích ngừa và khám sức khoẻ, nên đặt lịch hẹn trước.
Chú ý: Nếu người đồng bảo trợ có quan hệ ruột thịt với người bảo trợ chính thì nên nộp thêm giấy khai sinh của người đồng bảo trợ.
[Bộ 3] BẰNG CHỨNG
Bằng chứng góp phần rất quan trọng cho việc nhận giấy hồng, chấp nhận cấp Visa khi đi phỏng vấn. Chuẩn bị bằng chứng theo thứ tự thời gian giữa người bảo lãnh và người được bảo lãnh; người được bảo lãnh và các thành viên đi theo cùng đương đơn chính. Bộ này gồm hình ảnh, học bạ, bill điện thoại, giấy tờ khác...
I. Hình ảnh:
Chuẩn bị để riêng các hình ảnh chứng minh 2 mối quan hệ trên. Nên chọn lựa những hình chứng minh mối quan hệ gia đình, bao gồm hình cũ, hình mới, sắp xếp hình theo thứ tự qua các giai đoạn từ cũ đến mới.
Nếu thiếu hình cũ chụp chung với người bảo lãnh thì tìm hình khác còn lại chứng minh mối quan hệ gia đình rộng hơn của mọi người trong gia đình như cha-mẹ-con, anh-chị-em...
Hình có thể để trong Album mỏng hoặc dán trên giấy A4 để dễ đưa vào ô cửa hẹp lúc phỏng vấn. Bên dưới hình dán thêm ghi chú bằng tiếng Anh các hình quan trọng: Hình chụp năm nào, ở đâu, ai chụp chung,...
Người bảo lãnh (NBL) lớn tuổi cần phải có hình mới chụp, tay cầm tờ báo Mỹ mới nhất, thấy được ngày phát hành để nhân viên TLSQ biết NBL hiện vẫn còn sống (gởi về bằng file qua email).
Lưu ý: Đây là bằng chứng quan trọng nên không thể thiếu đối với NBL lớn tuổi & sẽ được nhân viên TLSQ yêu cầu lúc phỏng vấn.
II. Giấy tờ cũ có tên người bảo lãnh & được bảo lãnh như:
2. Sổ công giáo (nếu có).
3. Học bạ cũ (nếu có).
4. Các giấy tờ cũ khác còn giữ.
5. Bill điện thoại: Người nhà bên Mỹ in Bill điện thoại gởi về, dùng bút dạ quang tô màu số điện thoại nhà.
6. Thư từ cũ gởi về từ Mỹ còn bao thư có mộc bưu điện...
III. Bằng chứng mối quan hệ gia đình của đương đơn chính với các thành viên đi theo:
1. Học bạ của các con.
2. Hình ảnh gia đình.
3. Hộ khẩu.
4. Khai sanh.
5. Giấy kết hôn.
Khi phỏng vấn mang theo thư mời phỏng vấn, [Bộ 1,2 và 3] cùng mỗi thành viên cần chuẩn bị thêm các giấy tờ sau đây khi đi phỏng vấn. Con cái đi theo thì trừ ra hôn thú và hộ khẩu.
Các bản chính trong trường hợp họ cần:
1. 4 tấm hình 5x5 cm (mỗi người).
2. Hộ khẩu.
3. Chứng minh nhân dân (mỗi người).
4. Hộ chiếu.
5. DS–230 I, II (mỗi người).
6. Hôn thú.
7. Lý lịch tư pháp (bản chính).
8. Khai sinh (mỗi người).
9. Kết quả khám sức khoẻ của mỗi người (bao thư khám sức khoẻ phải còn niêm phong).
10. Giấy thuận tình cho con đi cùng nếu con dưới 18 tuổi và cha/mẹ còn ở lại Việt Nam.
11. Giấy cam kết độc thân cho tất cả đương đơn nữ từ 18 tuổi trở lên và nam từ 20 tuổi trở lên còn độc thân, hoặc đã ly dị, góa vợ, góa chồng.
12. Các giấy tờ liên quan quân đội, toà án trước đây (nếu có).
Chú ý:
1. Tất cả những giấy tờ không phải bằng tiếng Việt hay tiếng Anh phải được dịch sang tiếng Anh và công chứng.
2. Trường hợp HS phải khiếu nại CSPA tại LSQHK tại TPHCM thì:
- Người CSPA cần chuẩn bị DS-230 và civil documents như các thành viên đi theo người được bảo lãnh chính.
- I-864 của người bảo trợ nên có cả tên người CSPA (nếu chắc chắn đủ tuổi) copy I-864 gởi về cho người CSPA, như vậy sau khi khiếu nại tại LSQ không phải làm lại I-864. Trường hợp người bảo trợ không đề tên người CSPA thì sau khi khiếu nại CSPA thành công, người bảo trợ phải làm lại I-864 bản chính và gởi về VN cho gđ cầm đi phỏng vấn. Hoặc làm thêm I-864 cho người CSPA bản chính.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





